Đây Mùa Thu Tới ❤Nội Dung Bài Thơ, Nghệ Thuật, Phân Tích

Duới đây là các thông tin và kiến thức về Mùa thu tới hay nhất và đầy đủ nhất

Đây Mùa Thu Tới ❤️️ Nội Dung Bài Thơ, Nghệ Thuật, Phân Tích ✅ Chia Sẻ Hoàn Cảnh Sáng Tác, Bố Cục, Ý Nghĩa Bài Thơ Chi Tiết.

Nội Dung Bài Thơ Đây Mùa Thu Tới Của Xuân Diệu

“Đây mùa thu tới” là một bài thơ trữ tình đặc sắc của thi sĩ Xuân Diệu. Bài thơ là một bức tranh mùa thu rộng lớn, đẹp đẽ nhưng đượm nỗi buồn thơ mộng do cảnh vật bị phai nhòa, nhạt nhòa theo ý muốn của thời gian. Sau đây là nội dung bài thơ:

Đây mùa thu tớiTác giả: Xuân Diệu

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng;Đây mùa thu tới – mùa thu tớiVới áo mơ phai dệt lá vàng.

Hơn một loài hoa đã rụng cànhTrong vườn sắc đỏ rũa màu xanh;Những luồng run rẩy rung rinh lá…Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ…Non xa khởi sự nhạt sương mờ…Đã nghe rét mướt luồn trong gió…Đã vắng người sang những chuyến đò…

Mây vẩn từng không, chim bay đi,Khí trời u uất hận chia ly.Ít nhiều thiếu nữ buồn không nóiTựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì.

Gợi ý đọc hiểu🌿 Vội Vàng [Xuân Diệu] 🌿 Nội Dung, Nghệ Thuật, Phân Tích Bài Thơ

Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Đây Mùa Thu Tới

Bài thơ Đây mùa thu tới được sáng tác trong hoàn cảnh nào? Cùng Thohay.vn tìm hiểu ngay sau đây nhé!

“Đây mùa thu tới” được in trong tập thơ xuất bản năm 1938, là một trong những bài thơ mang đậm hồn thơ và phong cách sáng tác của Xuân Diệu.

“Đây mùa thu tới” được bắt nguồn từ cảm hứng rất Xuân Diệu, đó là cảm quan về thời gian. Bài thơ được sáng tác khi Xuân Diệu nhìn hàng liễu bên hồ gần nhà, ông đã từng thốt lên điều này khi nhìn hàng liễu rủ bên hồ mềm mại như mái tóc dài của người thiếu nữ, đồng thời, nó như những giọt nước mắt chảy dài mang vẻ đẹp mơ màng, buồn man mác nhưng cũng không kém phần lãng mạn.

Ý Nghĩa Bài Thơ Đây Mùa Thu Tới

Bài thơ không chỉ dựng lên bức tranh mùa thu rộng lớn với cả màu sắc, hình ảnh, những chuyển động tinh tế mà còn tái hiện được tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến của con người trước những biến chuyển của thiên nhiên, trời đất lúc sang thu. Đằng sau bức tranh ấy, ta thấy được tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của tác giả trước sự chuyển đổi của trời đất.

Đón đọc 🌿Thơ Duyên [Xuân Diệu] 🌿 Nội Dung, Nghệ Thuật, Phân Tích

Bố Cục Bài Thơ Đây Mùa Thu Tới

Bố cục bài thơ Đây mùa thu tới được chia thành 4 phần, mỗi khổ một phần:

  • Phần 1: Khổ thơ thứ nhất: Cảm nhận của nhà thơ khi mùa thu tới.
  • Phần 2: Khổ thơ thứ hai: Khu vườn mùa thu.
  • Phần 3: Khổ thơ thứ ba: Cảnh vật mùa thu.
  • Phần 4: Khổ thơ cuối: Không gian thu mênh mông, rộng lớn.

Nghệ Thuật Bài Thơ Đây Mùa Thu Tới

Điểm qua một số giá trị nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu.

  • Bài thơ sử dụng thể thơ 7 chữ
  • Ngôn ngữ hình ảnh được sử dụng đầy độc đáo, lôi cuốn.
  • Bài thơ sử dụng nhiều từ láy như ngẩn ngơ, mong manh, rung rinh, run rẫy, đìu hiu,…
  • Tác giả sử dụng điệp cấu trúc “mùa thu tới” để nói lên sự hồ hởi, chào đón “nàng thu” của mình.
  • Xuân Diệu liên tiếp sử dụng những từ ngữ đặc sắc và đầy chất gợi trong bài thơ.
  • Sử dụng phép tu từ nhân hóa, Xuân Diệu đã khắc họa tính cách của trăng y hệt như một người con gái đang suy nghĩ

Xem thêm những 🍃Bài Thơ Về Mùa Thu Của Xuân Diệu 🍃Lãng mạn

5 Mẫu Cảm Nhận, Phân Tích Bài Thơ Đây Mùa Thu Tới Hay Nhất

Sưu tầm 5 mẫu cảm nhận, phân tích bài thơ Đây mùa thu tới hay nhất, cùng tham khảo nhé!

Mẫu Cảm Nhận, Phân Tích Bài Thơ Đây Mùa Thu Tới Hay – Mẫu 1

Từ lâu, đề tài mùa thu đã trở thành một nguồn cảm hứng bất tận cho tất cả các thi nhân. Nếu như ở trên ta có một “Thu điếu” – Nguyễn Khuyến với cảnh thu thân thuộc, bình dị của làng quê đồng bằng Bắc Bộ thì đến với “Đây mùa thu tới”, Xuân Diệu lại mang đến bức tranh thu sinh động, ấn tượng đồng thời tác giả bày tỏ cảm xúc u sầu, trầm tư khi mùa thu đến.

“Đây mùa thu tới” được rút từ tập “Thơ thơ” xuất bản 1938, là một đại diện tiêu biểu cho nền thơ ca trước Cách mạng. Bài thơ chính là khung cảnh đất trời với “hơi thở” man mác buồn cùng với đó là nỗi bâng khuâng của người thiếu nữ khi mùa thu về.

Mở đầu bài thơ người đọc đã cảm nhận được cái buồn, vắng vẻ của cảnh vật

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”

Tác giả dẫn dắt độc giả với hình ảnh đầu tiên – “liễu”. Xuân Diệu đã chọn hình ảnh này làm tín hiệu của mùa thu nhằm diễn tả một mùa thu buồn man mác nhưng cũng đầy lãng mạn. Tâm trạng mà tác giả xây dựng cho “nhân vật” này là cái “đìu hiu” – tức là sự vắng vẻ, đơn côi. Và sự cô đơn này không chỉ diễn ra trên một mà là “rặng” – với nhiều cây liễu càng làm cho nỗi buồn chồng chất, lây lan.

Chính từ láy “đìu hiu” đã miêu tả không khí buồn, lẻ loi của “liễu”. Nhà thơ đã dùng thủ pháp nhân hóa để nói lên hành động của “liễu” là “đứng chịu tang”. Lúc này, “liễu” không còn là một thực thể vô tri vô giác nữa mà thay vào đó là hình ảnh buồn, lặng lẽ nghiêng mình trước “tang”.

Hình ảnh “lệ ngàn hàng” gợi nỗi đau, nỗi buồn khi tác giả sử dụng số đếm “ngàn” để chỉ về nước mắt của cây liễu. Chính điều này làm người ta tự hỏi liệu nguyên nhân nào khiến cho “liễu” khóc, ai đã ra đi để “nàng” phải “chịu tang”. Hai câu thơ gợi mở và làm cho người đọc tò mò về những “diễn biến” tiếp theo.

Ở khổ thơ đầu này, một biện pháp nghệ thuật nữa mà tác giả sử dụng là láy âm gần nhau. Liên tiếp là ba chữ “Buồn – buông – xuống” là các âm tiết nửa khép nên khẩu hình khi phát âm là hẹp tạo cảm giác nỗi buồn ứ đọng và khi phát âm thì âm thanh trầm. Thanh âm theo thứ tự là bằng thấp, bằng cao, trắc cao nên khi đọc câu thơ gợi cảm giác nỗi buồn đang “buông” từ từ, không vội vã . Cũng tương tự như vậy tác giả sử dụng láy âm cho ba chữ “tang – ngàn – hàng” cũng là âm tiết nửa khép.

Đi từ bằng cao xuống bằng thấp nên các từ này gợi nỗi trĩu nặng, giọng điệu trầm xuống cho sự xót xa, thương tiếc của “liễu”.

“Đây mùa thu tới mùa thu tớiVới áo mơ phai dệt lá vàng.”

Niềm vui mừng, phấn khởi của tác giả khi mùa thu đã “chạm ngõ”. Điệp cấu trúc “mùa thu tới” càng nói lên sự hồ hởi, chào đón “nàng thu” của thi sĩ. Câu cuối chính với hình ảnh nhẹ nhàng, trong sáng, mang đậm sắc thu với “phông nền” là màu vàng. Cả hai câu thơ đều có cách ngắt nhịp 4/3 diễn tả được sự chuyển động của nàng thu, đồng thời thể hiện thái độ mong chờ thu tới của thi sĩ.

Nếu như ở khổ thơ đầu tiên tác giả đưa chúng ta đến với những cảm xúc thuần túy của mùa thu thì ở khổ tiếp theo Xuân Diệu lại đi vào chi tiết, khắc họa rõ nét hơn bức tranh thiên nhiên.

“Hơn một loài hoa đã rụng cànhTrong vườn sắc đỏ rũa màu xanh.Những luồng run rẩy, rung rinh lá,Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.”

Thoạt đọc câu đầu khổ thơ hai, độc giả sẽ cảm thấy khá lạ tai với cụm từ “hơn một”. “Hơn một” tức là số nhiều, có thể là hai, ba, bốn…. nhưng thi sĩ lại không dùng một số đếm cụ thể mà lại dùng “hơn một”. Chính cụm từ này đã gây ra cho người đọc nhiều hứng thú. Chắc hẳn rằng không chỉ có một loài hoa “đã rụng cành” mà là rất nhiều loài hoa đã như thế.

Xuân Diệu quả là một nhà thơ tài tình khi ông liên tiếp đưa ra những từ ngữ đặc sắc và đầy chất gợi. Phải tinh tế lắm, nhạy cảm lắm thì ông mới chọn “rũa” để miêu tả cây trong vườn. Động từ này gây ra cho người đọc sự nhuốm màu, pha trộn giữa màu xanh và màu đỏ. “Sắc đỏ” đang dần xâm chiếm trên lá cây, như một tín hiệu cho mùa thu đã về.

Câu thơ kế tiếp thi sĩ sử dụng liên tục hai từ láy “run rẩy”, “rung rinh” như một sự lay động nhẹ của “nhánh khô gầy” khi có làn gió thoảng qua. Liên tiếp là bốn chữ “r” làm cho người đọc cảm nhận được cái lạnh, sự “run rẩy” cũng theo đó mà được cảm nhận rõ hơn.

Đến với khổ thơ thứ ba, người đọc bắt gặp hồn thơ vừa mang tính hiện thực lại có tính chất tượng trưng đầy sáng tạo. Ấn tượng ngay với độc giả là hình ảnh “nàng trăng”. Cũng với ý nghĩa đó tác giả có thể diễn đạt theo cách khác như trăng non hoặc trăng đầu mùa. Nhưng không, thi nhân đã nhân hóa trăng thành hình ảnh một con gái với tuổi xuân xanh mơn mởn như chính cái sắc vàng của trăng non.

“Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơNon xa khởi sự nhạt sương mờ”

Với phép tu từ nhân hóa, nhà thơ Xuân Diệu đã khắc họa tính cách của trăng y hệt như một người con gái đang suy nghĩ điều gì để rồi tự “ngẩn ngơ”. Cùng với hình ảnh trăng, tác giả còn khéo léo giới thiệu về núi non quê hương.

Xem thêm: Cách cúng sao năm 2023 để giải hạn sao – Bách hóa XANH

Từ “xa” cho thấy điểm nhìn của tác giả đã mở rộng ra. Thoạt đầu là từ trên cao khi chiêm ngưỡng “nàng trăng”, còn giờ đây là không gian có chiều dài với núi non được bảo vệ bởi một lớp sương “nhạt”. Chính từ này làm cho núi non không hiện ra một cách rõ nét cũng không bị bao phủ quá dày mà nó vừa đủ để tạo ra hình ảnh vừa thực vừa ảo.

“Đã nghe rét mướt luồn trong gióĐã vắng người sang những chuyến đò.”

Cấu trúc song hành “Đã…” diễn tả một sự việc, hành động đã xảy ra. Thu về mang theo cái rét đặc trưng cùng “hội ngộ”. Lúc này tác giả đã chuyển xúc giác sang thính giác để nghe “lời thu nói”. Cái rét ở đây không phải là rét đậm cũng không là rét tê tái mà là “rét mướt”. Động từ độc đáo “luồn” tạo cảm giác cái rét đang len lỏi vào từng cơn gió cùng về với mùa thu. Câu thơ cuối miêu tả hiện thực những chuyến đò giờ đã vắng người sang gợi cảm giác buồn, vắng vẻ.

Đến với khổ thơ cuối cùng:

“Mây vẩn từng không chim bay điKhí trời u uất hận chia lyÍt nhiều thiếu nữ buồn không nóiTựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì.”

Nếu như ở “Thu điếu” Nguyễn Khuyến đưa đến cho chúng ta một bầu trời nhẹ nhàng, trong xanh – “tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” thì “Đây mùa thu tới” bầu trời của Xuân Diệu lại đượm buồn. Thi sĩ dùng những hình ảnh chuyển động để nói tới cái tĩnh lặng của con người. “Chim bay đi” trong sự chia ly của khí trời làm cho không gian như chia đôi, tạo cảm giác buồn đơn chiếc. Tác giả đã miêu tả từ cái xác định đến cái không xác định làm cho câu thơ có nét mới lạ.

Hình ảnh “thiếu nữ buồn không nói” cùng với nghệ thuật đảo ngữ đã khắc họa nỗi sầu thảm, lẻ loi, cô đơn của cô gái trước không gian mênh mông rộng lớn. “Nhìn xa”, “nghĩ ngợi” càng làm rõ hơn sự suy tư, trầm ngâm của nhân vật trước cảnh sắc mùa thu hay chính xác là bước “chuyển mình” của “nàng thu”. Mượn hình ảnh “thiếu nữ”, tác giả đã nói lên suy nghĩ, tâm sự của mình về bức tranh thu. Đó chính là cảm xúc buồn, suy tư khi mùa thu dần “tàn”.

Với “Đây mùa thu tới”, nhà thơ Xuân Diệu đã cho độc giả thấy cảm quan cực kì xuất sắc trong việc quan sát, miêu tả cảnh vật khi mùa thu tới. Bài thơ không những có đầy đủ hình ảnh, cảnh sắc mà còn chất chứa tình thu. Bằng tình yêu cuộc sống, thái độ trân quý thời gian thi sĩ đã vẽ nên bức tranh thu vừa sinh động nhưng đồng thời cũng mang nét u buồn, cô đơn.

Mẫu Cảm Nhận, Phân Tích Bài Thơ Đây Mùa Thu Tới Hay Đặc Sắc – Mẫu 2

Xuân Diệu (1916-1985) là nhà thơ tình, viết hay nhất và nhiều nhất trong thời đại chúng ta. Thi sĩ đã để lại trên 400 bài thơ tình,; là nhà thơ “mới nhất trong những nhà thơ mới”. Xuân Diệu cũng là thi sĩ của mùa thu. Với Xuân Diệu nếu “Tình không tuổi và xuân không ngày tháng” thì cảnh thu chứa đựng biết bao tình thu, bao rung động xôn xao, bởi lẽ “Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền”.

Trong hai tập thơ viết trước Cách mạng: “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió ” có rất nhiều bài thơ nói đến sắc thu, hương thu, trăng thu, tình thu, thiếu nữ buổi thu về… Mùa thu thật đáng yêu, làm cho tâm hồn thi sĩ như dây đàn huyền diệu đang rung lên xao xuyến…

“Đây mùa thu tới” là một bài thơ thu tuyệt bút của Xuân Diệu, rút trong tập “Thơ thơ”, xuất bản năm 1938. Thu đến, xôn xao rung động đất trời. Cảnh vật đẹp mà thoáng buồn man mác. Lòng thiếu nữ càng trở nên bâng khuâng buổi thu về.

Cảm nhận đầu tiên của thi sĩ Xuân Diệu về mùa thu không phải là âm thanh tiếng chày đập vải, không phải là ấn tượng “Ngô đồng nhất diệp lạc – Thiên hạ cộng trì thu” mà là ở dáng liễu, rặng liễu ven hồ, hay bên đường:

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”.

Cả một không gian “đìu hiu”, buồn và vắng vẻ. Rặng liễu trầm mặc như “đứng chịu tang”. Lá liễu buông dài như tóc nàng cô phụ “buồn buông xuống”. Lá liễu ướt đẫm sương thu tưởng như “lệ ngàn hàng”. Liễu được nhân hóa “đứng chịu tang”, từ tóc liễu đến lệ liễu đều mang theo bao nỗi buồn thấm thía. Một nét liễu, một dáng liễu được miêu tả và cảm nhận đầy chất thơ.

Biện pháp láy âm được Xuân Diệu vận dụng tài tình để tạo nên vần thơ giàu âm điệu, nhạc điệu: “đìu hiu – chịu”, “tang – ngàn – hàng”, “buồn – buông – xuống”. Đó là một điểm mạnh, khá mới mẻ trong thi pháp mà Xuân Diệu đã học tập được trong trường phái thơ tượng trưng Pháp trong thế kỉ XIX.

Say mê ngắm “rặng liễu đìu hiu…”, nhà thơ khẽ reo lên khi chợt nhận thấy thu đã đến. Cách ngắt nhịp 4/3 với điệp ngữ “mùa thu tới” đã diễn tả bước đi của mùa thu và niềm mong đợi thu về bấy lâu nay trong lòng thi sĩ:

“Đây mùa thu tới/mùa thu tớiVới áo mơ phai/dệt lá vàng”.

Một vần lưng thần tình: “tới – với”, một chữ “dệt” tinh tế trong miêu tả và cảm nhận. Thu vừa tới, sắc màu cỏ cây vạn vật đều đổi thay, trở thành “mơ phai”. Đó đây điểm tô một vài sắc vàng của lá, đúng là “dệt lá vàng”. Câu thơ “Với áo mơ phai dệt lá vàng” là một câu thơ nhiều thi vị, nói lên cái hồn thu với sắc lá, gợi lên cảm giác thanh nhẹ, tươi sáng về mùa thu đáng yêu vô cùng.

Có thể nói, khổ thơ đầu đã vẽ lên một bức tranh thu đẹp, thơ mộng, thấm một nỗi buồn từ cây cỏ đến lòng người, nhưng không ảm đạm, thê lương làm nặng trĩu lòng người.

Mỗi ngày mỗi đêm đi qua. Thu đã về và thu dần dần trôi qua. Cảnh vật biến đổi. Hoa đã “rụng cành”. Tác giả không nói “đôi ba…”, mà lại viết “hơn một” cách dùng số từ ấy cũng là một cách nói rất mới. Trong vườn, màu đỏ (từng chấm nhỏ) đang lấn dần, đã và đang “rũa màu xanh”! Cũng nói về sự biến đổi ấy, trong bài “Cảm thu, tiễn thu” thi sĩ Tản Đà viết:

“Sắc đâu nhuộm ố quan hà Cỏ vùng cây đỏ bóng tà tà dương”.

Cây cối bắt đầu rụng lá trơ cành như đang “run rẩy”, khẽ “rung rinh” trước những làn gió thu lành lạnh, se sắt. Khổ thơ thứ hai, chất thơ ấy là sự lay động xôn xao từ cảnh vật, từ hoa lá hơi may mà thấm vào hồn thi sĩ:

“Hơn một loài hoa đã rụng cànhTrong vườn sắc đỏ rũa màu xanh.Những luồng run rẩy, rung rinh lá,Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”.

Các từ láy: “run rẩy”, “rung rinh”, “mỏng manh” là những nét vẽ thần diệu gợi tả cái run rẩy, cái rùng mình của cây lá buổi chiều thu. Nghệ thuật sử dụng các phụ âm , “r” (rụng, rũa, run rẩy, rung rinh) và phụ âm “m” (một, màu, mỏng manh) với dụng ý thẩm mĩ trong gợi tả và biểu cảm đặc sắc. Đó cũng là một nét mới trong thi pháp của Xuân Diệu.

Khổ thơ thứ 3, thi liệu vừa hiện thực vừa ước lệ tượng trưng, vừa kế thừa vừa cách tân sáng tạo. Cũng có trăng nhưng là “nàng trăng tự ngẩn ngơ” trên bầu trời. Không nói là trăng non đầu tháng, không hỏi “Trăng bao nhiêu tuổi trăng già” mà lại nói là “nàng trăng”. Một hình ảnh đẹp, thơ mộng tả vầng trăng thu.

Cũng có núi, có non, lúc ẩn lúc hiện, “khởi sự” nhô lên cuối chân trời xa, qua lớp sương thu mờ. Trăng và núi trong thơ Xuân Diệu chứa đựng cái hồn thu muôn thuở của xứ sở quê hương, gần gũi và thân thuộc từ bao đời nay được vẽ lên thật đẹp:

“Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơNon xa khởi sự nhạt sương mờ… “

Hai tiếng “đã nghe”, “đã vắng” gợi tả cái không gian bao la, vắng vẻ của những buổi chiều thu lành lạnh:“Đã nghe rét mướt luồn trong gió,Đã vắng người sang những chuyến đò”

Cấu trúc câu thơ song hành và cách diễn tả cũng rất mới. Có chuyển đổi cảm giác giữa xúc giác và thính giác. Như vậy, sự cảm nhận của thi nhân về rét, về gió, về cái xa vắng không chỉ bằng giác quan mà còn bằng cả linh hồn nữa. Chữ “luồn” đã cụ thể hóa cái rét, cảm nhận được nó bằng trực giác. Rét mướt luồn trong gió thu hiu hắt chứ không phải là gió rét. Rõ ràng là chưa rét đậm, rét tê tái, đúng là cái rét, cái lành lạnh những chiều thu, những đêm tàn thu.

Khổ cuối là một bức tranh thu tuyệt đẹp. Có vẻ đẹp của thiên nhiên, của mây trời, cánh chim. Có vẻ đẹp thiếu nữ. Cảnh đẹp, người đẹp mà thoáng buồn mơ hồ mênh mông. Mây và cánh chim gợi lên nỗi buồn đẹp chia li như “bèo dạt mây trôi” của tình ca! Thi sĩ đã lấy cái “động” của cánh chim bay, của áng mây chiều trôi để đặc tả cái êm đềm, yên tĩnh của cõi vật và lòng người:

“Mây vẩn từng không chim bay đi,Khí trời u uất hận chia li”…

Trong cái êm đềm, xa vắng ấy hiện lên hình ảnh thiếu nữ “ít nhiều” chưa xác định. Buồn tương tư, “buồn không nói”. Một dáng điệu “tựa cửa nhìn xa”, một tâm hồn “nghĩ ngợi gì” rất mơ hồ, xa xăm:

“Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói,Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì”

Là mùa xuân hay mùa thu, là mùa hè hay mùa đông, giữa thiên nhiên trăm sắc nghìn hương ấy, hình ảnh thiếu nữ đa tình, duyên dáng luôn luôn thấp thoáng qua những vần thơ của Xuân Diệu. Thi sĩ đa tình nên thiếu nữ cũng đa tình?

“Đây mùa thu tới” là một bài thơ thu tuyệt bút của Xuân Diệu. Bao nhiêu nét thu là bấy nhiêu nét vẽ tài hoa. Dáng thu, sắc thu, tình thu đều đẹp mà buồn, bao nên cái hồn thu mênh mang, xao xuyến. Đáng yêu nhất là hình ảnh thiếu nữ, một dáng thu yêu kiều mộng tưởng “Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”. Một trái tim đa tình, một ngòi bút tài hoa. Cách cảm và cách diễn tả rất mới, rất thơ.

Đằng sau những sắc thu của đất trời, hoa lá, cây cỏ, của núi xa, của nàng trăng, của làn gió thu se lạnh,… là tiếng thu xôn xao, rung động trong tâm hồn thi sĩ tuổi đôi mươi và trong lòng thiếu nữ tuổi trăng tròn. Bài thơ cho ta nhiều ngẩn ngơ say cái hương sắc mùa thu xưa, mùa thu Hà Nội hơn nữa.

Mẫu Cảm Nhận, Phân Tích Bài Thơ Đây Mùa Thu Tới Chọn Lọc – Mẫu 3

Xuân Diệu ông hoàng của thơ tình yêu, chưa kể những bài thơ của ông đều mang những quan niệm rất mới về cuộc sống, tuổi trẻ và về tình yêu. Ông cũng được xem là thi sĩ của mùa thu, cũng chính vì cái lãng mạn, khoảnh khắc xao xuyến của thu mà những vần thơ của nhà thơ hồn hậu và có hồn biết bao nhiêu.

Xem thêm: Lời chúc thành công trong sự nghiệp hay nhất, ý nghĩa nhất – Joboko

“Đây mùa thu tới” là một trong số những sáng tác tiêu biểu của Xuân Diệu. Mùa thu đó hiện ra thật đáng yêu, làm cho tâm hồn thi sĩ như dây đàn rung lên những điệu nhạc xao xuyến lòng người.

Rút từ tập “ Thơ Thơ”, sáng tác “Đây mùa thu tới” là một bài thơ thu tuyệt bút của Xuân Diệu, xuất bản năm 1938. Thu đến, những chiếc lá rụng, gió hắt hiu làm xốn xang lòng người đặc biệt là một tâm hồn của một người thi sĩ, vốn đã có chút nhạy cảm với những thay đổi của đất trời dù là nhỏ nhất.

Nhưng có lẽ hình ảnh mùa thu tới trong tác phẩm khiến cho người đọc cảm nhận một không khí tang thương bi ai,những hình ảnh không phải hoa lá, không phải gió đưa cần trúc, không phải mặt nước xanh biếc mà gắn với hình ảnh những cành liễu:

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”.

Không gian hiện ra với vẻ “đìu hiu”, buồn và vắng vẻ. Rặng liễu trầm mặc như “đứng chịu tang”. Lá liễu buông dài như tóc nàng cô phụ “buồn buông xuống”. Sương thu ướt đẫm trên những nhánh liễu khiến tác giả ngâm nga một câu khiến chúng trở nên có hồn.

Những cành liễu giống như những cô giá thướt tha, nhưng mắt buồn đẫm lệ. Biện pháp láy âm được Xuân Diệu vận dụng tài tình để tạo nên vần thơ giàu âm điệu, nhạc điệu: “đìu hiu – chịu”, “tang – ngàn – hàng”, “buồn – buông – xuống”. Đây tạo nên những nét thú vị của thơ Xuân Diệu những năm đầu thế kỉ 20.

Ngắm nhìn rặng liễu, đột nhiên tác giả chợt nhận ra màu thu đã tới, với cách ngắt nhịp 4/3 với điệp ngữ “mùa thu tới” đã diễn tả bước đi của mùa thu và niềm mong đợi thu về bấy lâu nay trong lòng thi sĩ.

“Đây mùa thu tới mùa thu tớiVới áo mơ phai dệt lá vàng”.

Cách hiệp vần lưng thần tình: “tới – với”, một chữ “dệt” tinh tế trong miêu tả và cảm nhận. Thu tới cũng chính muôn nơi được nhuộm bởi một màu vàng của cây đổi lá, nó được dệt một cách tỉ mỉ mang tới một vẻ đẹp không phải tự dưng mà có. “Với áo mơ phai dệt lá vàng” là một câu thơ thi vị biết bao, nói lên cái hồn thu với sắc lá, gợi lên cảm giác thanh nhẹ, tươi sáng về mùa thu đáng yêu vô cùng. Tuy nhiên mùa thu đó lại bắt đầu với một nỗi buồn ảm đạm hắt hiu.

Thu về cũng chính là lúc cảnh vật đổi khác, khoác lên mình những màu sắc rực rỡ. Thu đã về và thu dần trôi,thời gian trôi nhanh không tưởng. Cảnh vật một lúc một khác, hoa rơi, màu đỏ lấm chấm dần và rủa màu xanh. Cây cối cảnh vật bắt đầu rụng lá trơ cành như đang “run rẩy”, khẽ “rung rinh” trước những làn gió thu lành lạnh, se sắt.

“Hơn một loài hoa đã rụng cànhTrong vườn sắc đỏ rũa màu xanh.Những luồng run rẩy, rung rinh lá,Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”.

Ở khổ thơ này, tác giả sử dụng những từ láy như: “run rẩy”, “rung rinh”, “mỏng manh” là những nét vẽ thần diệu gợi tả cái run rẩy, cái rùng mình của cây lá buổi chiều thu. Đặc biệt hình ảnh sắc đỏ “ rủa “ màu xanh khiến cho câu thơ mang một nét đẹp nghệ thuật độc đáo. Màu xanh đó không mướt như ngọc mà từ từ từ lan rộng ra, và mọi thứ như ngấm chất thu vào đó.

Thi liệu vừa hiện thực vừa ước lệ tượng trưng, vừa kế thừa vừa cách tân sáng tạo ở khổ thơ thứ 3 được sử dụng một cách triệt để: là “nàng trăng tự ngẩn ngơ” trên bầu trời. Một hình ảnh đẹp, thơ mộng tả vầng trăng thu. Hình ảnh núi nhấp nhô trong làn sương mờ cành làm nổi bật những hình ảnh của mùa thu. Trăng và núi trong thơ Xuân Diệu chứa đựng cái hồn thu muôn thuở của xứ sở quê hương, gần gũi và thân thuộc từ bao đời nay được vẽ lên thật đẹp:

“Thỉnh thoang nàng trăng tự ngẩn ngơNon xa khởi sự nhạt sương mờ… ““Đã nghe rét mướt luồn trong gió,Đã vắng người sang những chuyến đò”

Hai tiếng “đã nghe”, “đã vắng” gợi tả cái không gian bao la, vắng vẻ của những buổi chiều thu với không khí se se lạnh. Chúng ta thấy có chuyển đổi cảm giác giữa xúc giác và thính giác. Sự cảm nhận của thi nhân về rét, về gió, về cái xa vắng không chỉ bằng giác quan mà còn bằng cả linh hồn nữa. Như chính tác giả dang đứng giữa chiều gió thu, se se lạnh,chữ “luồn” đã cụ thể hóa cái rét, cảm nhận được nó bằng trực giác.

Đâu đẹp bằng hình ảnh thiên nhiên đẹo đẽ ở khổ thơ cuối.Có vẻ đẹp của thiên nhiên, của mây trời, cánh chim, xuất hiện vẻ đẹp thiếu nữ. Cảnh đẹp, người đẹp nhưng mà thoáng buồn mơ hồ mênh mông. Mây và cánh chim gợi lên nỗi buồn đẹp chia li như “bèo dạt mây trôi” của tình ca!

“Mây vẩn từng không chim bay đi,Khí trời u uất hận chia li”…“Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói,Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì”

Bao giờ trong thơ Xuân Diệu luôn xuất hiện hình bóng của giai nhân.Đây mùa thu tới cũng vậy, xuất hiện hình bóng một giai nhân trong tương tư, đang mộng tưởng. Đó cũng là một nét mới nói về mùa thu trong thơ Xuân Diệu.

Bài thơ Đây mùa thu tới” lắng đọng trong độc giả những cảm xúc rất riêng, không những vậy cách cảm nhận của tác giả cũng rất mới mẻ. Mọi cảnh vật trong bài thơ mặc dù có thiên nhiên nhưng không thể thiếu được trong thơ Xuân Diệu là hình bóng giai nhân. Bao nhiêu nét thu là bấy nhiêu nét vẽ tài hoa. Dáng thu, sắc thu, tình thu đều đẹp đều hiện ra với nỗi buồn mênh mang không biết từ đâu đến.

Mẫu Cảm Nhận, Phân Tích Bài Thơ Đây Mùa Thu Tới Tiêu Biểu – Mẫu 4

Cũng viết về đề tài mùa thu – một đề tài quen thuộc của thơ ca Việt Nam. Nhưng cái thu trong bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu không giống với cảnh thu, trời thu, sắc thu truyền thống trong chùm thơ Thu của Nguyễn Khuyến. Trong bài thơ này tác giả gửi vào đó những xúc cảm mới, đồng thời có nhiều cách tân táo bạo trong việc xử lý thi liệu, trong diễn đạt,…đã làm nên một mùa thu rất độc đáo trong hồn thơ Xuân Diệu.

Nhạy cảm với những biến đổi của thiên nhiên đất trời trong khoảnh khắc giao mùa giữa hạ sang thu. Nhà thơ cảm thu từ hình ảnh thay đổi của rặng liễu- một hiện tượng rất mới lạ và độc đáo so với thơ trung đại. Hình ảnh rặng liễu ở đây được nhà thơ liên tưởng tới các thiếu nữ đứng xõa tóc chịu tang và tràn lệ. Điều đó làm cho rặng liễu mùa thu bỗng trở nên đẹp hơn, trẻ trung và có hồn hơn.

“ Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tangTóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”

Qua đó cũng thể hiện rõ cảm quan thẩm mỹ riêng của Xuân Diệu: lấy cái đẹp thanh xuân của người thiếu nữ để làm thước đo, phương tiện để tả vẻ đẹp của thiên nhiên. Nhưng cảnh đẹp này vương vấn chút buồn. thật khiến lòng người man mác. Tếp đó là tiếng reo vang như đang vui mừng trước sự xuất hiện của “Nàng Thu”:

“Đây mùa thu tới – mùa thu tớiVới áo mơ phai dệt lá vàng”

Xuân Diệu sử dụng điệp ngữ “ đây mùa thu tới – mùa thu tới” thể hiện sự sôi nổi giống như là tiếng reo thích thú với sự tới của mùa thu. Đó chính là tình cảm, sự ưu ái của nhà thơ dành cho cái đẹp. Thông qua hình ảnh “áo mơ phai dệt lá vàng” cho thấy nhà thơ phát hiện ra nàng thu đang tới chậm rãi, khoan thai bước đến với tấm áo vàng màu mơ phai.

Giống như một thiếu nữ đoan trang, e lệ bước đi uyển chuyển, cười duyên nhẹ nhàng như hơi thở say đắm mà dịu ngọt của mùa thu.Đặc biệt, Xuân Diệu có con mắt rất tinh tế, rất độc đáo. Ông miêu tả mùa thu với màu “áo mơ phai”. Mơ phai không phải hẳn vàng, mà cũng chẳng hẳn là xanh. Đó màu vàng pha chút ánh xanh, vàng tươi non, một màu vàng còn vương vấn màu xanh của mùa hạ.

“ Hơn một loài hoa đã rụng cànhTrong vườn sắc đỏ rũa màu xanhNhững luồng run rẩy rung rinh lá…Đôi nhánh khô gầy sương mỏng manh”.

Tới đây nhà thơ đi vào quan sát rất tỉ mỉ, miêu tả cụ thể cảnh thu đẹp trong vườn thu: có hoa, lá, cành, gió thu. Nghệ thuật liệt kê để kể ra hàng loạt cảnh vật phong phú. Về hoa đã có một số loài hoa đã lìa cảnh, những cánh hoa rơi nhẹ xuống mặt đất. Còn lá trong vườn thì đã tàn úa.

Màu xanh là biểu tượng của sự sống tươi trẻ đã bị một màu đỏ màu tàn tạ biểu tượng cho sự chết tróc đã “rũa”, mài mòn, gặm nhấm, dần lấn chiếm thay thế màu xanh. Thêm vào đó là hình ảnh các nhánh cây, chúng không chỉ khô gầy mà được tác giả miêu tả tăng lên tới độ mỏng manh.

Hình ảnh những cành cây trụi lá, giường như nó đã khô kiệt mất hết đi sức sống, nhựa sống. Đôi nhánh “run rẩy”, “rung rinh” ớn lạnh. Tác giả sử dụng biện pháp láy phụ âm đầu để thể hiện sự ớn lạnh của các cành cây trước gió.

Cảnh thu được mở rộng ra không gian ba chiều với trăng cao, non xa, đò sâu:

“ Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ…Non xa khởi sự nhạt sương mờ…Đã nghe rét mướt luồn trong gió..Đã vắng người sang những chuyến đò..”

Nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật nhân hóa khiến hình ảnh nàng trăng hiện ra với khuôn mặt tròn đầy, tươi sáng nhưng lại vương một nỗi sầu ngẩn ngơ. Đó là sự tiếc nuối, vơ vẩn và mơ hồ. Trăng giống như một cô gái đẹp đang tựa cửa suy tư, ánh mắt trong veo nhìn vô định, ngẩn ngơ buồn giữa không gian xa và rộng.

Trong câu thơ:

“Non xa khởi sự nhạt sương mờ…”

Cụm từ “non xa” gợi tả những dãy núi nhấp nhô, trùng điệp, vươn lên trong biển khói sương một cách mạnh mẽ thể hiện thông qua từ “khởi sự” cho thấy phong cảnh rất hùng vĩ, tráng lệ và thơ mộng. Lại tiếp tục là một từ gợi hình “ rét mướt” để nói lên sự rét mướt của mùa đông đang luồn vào những sợi gió của mùa thu. Và ở đây tác giả cảm được sự giao thoa của ba mùa hạ- thu- đông.

Xem thêm: Lời bài hát [ Có chắc yêu là đây – Sơn Tùng M-TP ] – Bootstrap

“Đã vắng người sang những chuyến đò..”

Những chuyến đò đã vắng khách, ít người qua lại. Hơn nữa, qua khổ thơ cũng cho thấy mùa thu với Xuân Diệu còn là mùa của sự chia li: người chia tay với người, mùa chia tay với mùa, cảnh vật cũng chia ly với nhau. Điều đó được ông thể hiện thông qua các câu thơ:

“ Mây vẩn từng không chim bay điKhí trời u uất hận chia liÍt nhiều thiếu nữ buồn không nóiTựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”

Màu sắc của sự chia li bắt đầu từ cảnh vật. Những loài chim di cư cũng đã cảm nhận được cái rét của mùa đông sắp tới nên chúng vội vã bay về phương Nam để tránh cái lạnh giá nơi phương Bắc. Bầu trời cũng nhuốm màu u uất của sự chia ly thể hiện ở những đám mây vần vũ, chao đảo. Tất cả đã khiến cho bầu trời trở nên vẩn đục, xám xịt. Và đó cũng chính là bầu trời của tâm trạng, sắc màu tâm lý.

Trong hai câu thơ cuối tác giả thể hiện tình thu:

“Ít nhiều thiếu nữ buồn không nóiTựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”

Hình ảnh các thiếu nữ tươi trẻ hiện ra trong dáng đứng tựa cửa, yểu điệu duyên dáng nhưng ánh mắt thì nhìn xa xăm và ẩn chứa một nỗi buồn rất mơ hồ, không xác định được nguyên nhân biểu hiện của những thiếu nữ nhạy cảm. Các thiếu nữ là trung tâm, điểm sáng và là linh hồn cho bức tranh khiến cho bức tranh bằng ngôn từ của Xuân Diệu trở nên đẹp và gợi cảm hơn.

“Đây mùa thu tới” trích trong tập Thơ thơ của Xuân Diệu đã vẽ lên một bức tranh phong cảnh mùa thu trong thời khắc giao mùa và được nhà thơ cảm nhận tinh tế, tái hiện bằng bút pháp hiện đại. Đây cũng là một trong những bài thơ đánh dấu thành công xuất sắc tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Diệu. Một bức tranh thu đẹp, rất đẹp nhưng buồn, khiến ta đọc xong cứ ngẩn ngơ, vương vấn mãi.

Mẫu Cảm Nhận, Phân Tích Bài Thơ Đây Mùa Thu Tới Ấn Tượng – Mẫu 5

Xuân Diệu là một trong ba đỉnh cao của phong trào Thơ mới ở việt nam. Trong các tác phẩm, của ông về đề tài mùa thu, nổi bật nhất là tác phẩm Đây mùa thu tới. Bài thơ viết về đề tài quen thuộc là mùa thu và vẫn dùng nhiều thi liệu truyền thống nhưng tác giả đã gửi vào đó những cảm xúc mới đồng thời có nhiều cách tân táo bao trong xử lý thi liệu, trong biểu đạt,…. Chính vì vậy bài thơ vẫn được xem là một thành công xuất sắc, tiêu biểu cho hồn thơ mới của nhà thơ.

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tangTóc buồn buông xuống lệ ngàn hàngĐây mùa thu tới, mùa thu tớiVới áo mơ phai dệt lá vàng

Xuân Diệu không mượn hình ảnh tượng trưng là ngô đồng rụng để nói mùa thu mà sử dụng hình ảnh cây liễu, như trong truyện Kiều “Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha” hay trong ca dao truyền thống “Lơ thơ tơ liễu buông mành” là những cây liễu đơn thuần chỉ làm duyên làm dáng cho con người, còn trong bài thơ của Xuân Diệu, cây liễu là hình ảnh nhân hóa như một người phụ nữ duyên dáng yêu kiều buồn tang tóc não nùng.

Xuân diệu đã đưa vào bài thơ một nét riêng mới lạ đó chính là đem lại cho rặng liễu một dáng hình cụ thể, một tâm hồn con người, một nỗi sầu muộn rất người. Nỗi buồn được thể hiện qua từ láy “đìu hiu” hình ảnh gợi sự yếu đuối “tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”, sự láy âm giữa các chứ “buồn-buông-xuống” “tang-ngàn-hàng” tạo lên hiệu quả diễn đạt miêu tả cái buồn của mùa thu, đó là dấu hiệu của chia tay tang tóc cây liễu trĩu nặng như không mang nổi mình nó.

“Đây mùa thu tới mùa thu tới”

Lặp 2 lần động từ “tới” báo hiệu một mùa thu vội vã, một sự giao cảm tinh tế nhạy bén. Nhịp câu thơ 4/3, sự lặp lại mùa thu tới như một tiếng reo ngỡ ngàng như chợt nhận ra mùa thu vô hình đã trở thành mùa thu hữu hình. Xuân diệu đón mùa thu bằng cả tấm lòng“Với áo mơ phai dệt lá vàng”.

Xuân Diệu đã vẽ nên mùa thu bằng chiếc áo mơ phai tạo cho mùa thu một dang vẻ tươi sáng thanh nhẹ quý phái, đây là màu sắc hư ảo. động từ dệt đêm đến cho ta cảm nhận màu vàng nhưng không tĩnh lặng, một màu xanh đậm không chịu úa tàn mà vẫn tiềm ẩn một sức mạnh của thiên nhiên. Câu thơ mất đi một chút rõ ràng nhưng được thêm rất nhiều thơ mộng. Khổ thơ 1 sử dụng biện pháp nhân hóa từ ngữ tinh tế tạo nên một bức tranh thiên nhiên chớm thu lộng lẫy nhưng không buồn.

Hơn một loài hoa đã rụng cànhTrong vườn sắc đỏ rũa màu xanhNhững luồng run rẩy rung rinh láĐôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.

Hơn một có nghĩa là vài là mấy nhưng lại không mang tính cụ thể, từ hơn một là từ ngữ rất tân kì, không dùng từ mấy, vài vì nó xã định giới hạn dùng từ hơn một gợi nhiều giá trị giợi cảm hơn. “Hoa rụng” thay cho từ lá rụng mà các nhà thơ xưa hay dùng đã tăng thêm cảm giác chia lìa tang tóc.

“Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh”

Rũa là từ chỉ xung đột giữa sắc đỏ và sắc xanh. Nhà thơ dùng những gam màu đối lập gay gắt đỏ – xanh vừa gây một cảm giác mạnh, vừa biểu hiện một ý tưởng, bước đi tàn nhẫn của thời gian làm phôi phai tất cả trong đó có màu lá.

“Những luồng run rẩy rung rinh lá”

Láy 4 phụ âm “r” gợi cảm giác lạnh lẽo, một sự rung động khẽ khàng của cây lá. Sử dụng một loạt âm tiết có phụ âm rung láy, bốn phụ âm “r” đã làm run rẩy cả câu thơ, cái lạnh như thấm từ đầu lưỡi lan ra đến tận gan ruột con người. Sự rung động khẽ của cây lá hay cũng chính là sự sợ hãi mang tâm trạng con người. Tác giả miêu tả gợi cảm cả bên trong cảnh vật

“Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”

Câu thơ là nét vẽ tranh phương đông chấm phá, chỉ ra linh hồn cảu cảnh vật, sự trơ trọi gầy guộc của cành lá khi thu, nhưng là mùa thu chưa định hình nên chỉ là đôi nhánh. Với cảm quan nhạy bén, với khả năng lựa chọn từ ngữ hình ảnh đoạn thơ đã đem lại cho ta cái sống động của cảnh vật.

Đó là sự sợ hãi của những chiếc lá sắp bị lìa cành, cách cảm nhận từ ngữ tinh tế, xuân diệu đã cảm được những biến động tinh vi huyền diệu của thiên nhiên, đó là cảnh phôi pha tan nát khi trời đất chuyển thu.

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơNon xa khởi sự nhạt sương mờĐã nghe rét mướt luồn trong gióĐã vắng người sang những chuyến đò.

Sự xuất hiện hình ảnh trăng cô lẻ, ngẩn ngơ buồn, hình ảnh non xa nhạt nhòa tạo cảm giác không gian quạnh hiu xa vắng, đặc biệt là chữ “vắng” càng giúp người đọc cảm nhận nỗi buồn vô cùng.

“Đã nghe rét mướt luồn trong gió”

“Nghe” có sự chuyển đổi cảm giác từ xúc giác sang thính giác. Câu thơ sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa rét mướt – luồn, gió rét đã hòa làm một, nhưng từ luồn đã tách đôi gió rét ra làm 2 vật thể riêng biệt. Đó là một cách vật thể hóa cái lạnh, chỉ mức độ cái lạnh của mùa thu, cái vô hình đã thành cái hữu hình nhờ động từ luồn.

Tác giả đã mở hết các giác quan để thụ cảm cái nhạt nhòa quạnh hiu buồn. Ta thấy đát trời quạnh quẽ xa mờ hơn, vầng trăng như cùng bơ vơ, ngẩn ngơ, núi không rõ nét, tất cả như đang chia ly như rời bỏ nhau.

Mây vẩn từng không chim bay điKhí trời u uất hận chia lyÍt nhiều thiếu nữ buồn không nóiTựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì.

Khổ thơ thứ 4 là cái nhìn lên bầu trời “mây vẩn từng không…” nếu bầu trời trong thơ Nguyễn Khuyến là bầu trời trong nhẹ cao thì trong thơ Xuân Diệu là “mây vẩn từng không chim bay đi” là chim đi khi trời u uất, không gian rộng xa vắng tạo sự chia ly tan tác, cảnh vận động theo mạch từ cái xác định cụ thể đến cái không xác định.

Cái tình đậm nét dần, những nỗi buồn, cái buồn của cái tôi cá nhân càng đi sâu càng thấy lạnh càng cô đơn, cái tôi tách khỏi cái ta (đặc trưng của thơ mới).

Hai câu thơ cuối là sự xuất hiện của ít nhiều từ ngữ không làm cho cảnh vui hơn mà trái lại càng sầu thảm hơn, đây là lối diễn đạt rất tây trong cấu trúc đảo ngữ “ít nhiều thiếu nữ buồn không nói”đã vẽ lên nỗi sầu buồn lẻ loi cô đơn của thiếu nữa trước không gian mênh mang.

Hai câu thơ nói lên nỗi buồn xa xăm thương nhớ, sự ngơ ngác của các cô gái chàng trai và cũng chính là tâm trạng nhà thơ, những con người mơ mộng và say đắm yêu thương. Con người đã xuất hiệnt rong tâm trạng u buồn suy tư, tình thu đã đâm sâu vào cảnh vào lòng người.

Qua bài thơ ta thấy nhà thơ có một tâm hồn nhạy cảm một năng lực quan sát tinh tế, một trí tưởng tượng phong phú. Nỗi buồn trong thơ xuân diệu không chỉ là nỗi buồn của những con người thời đại không tìm được hướng đi cho mình mà còn do những đặc điểm rất riêng của nhà thơ, khát khao giao cảm với đời mà đời lạnh nhạt, nỗi ám ảnh sâu sắc về thời gian một đi không trở lại.

Bài thơ là không gian đẹp chứng tỏ nhà thơ có một tình yêu tha thiết với quê hương đất nước, đó là yếu tố tích cực trong thơ xuân diệu cũng như của các nhà thơ mới.

Đón đọc thêm chùm 🌿Thơ Mùa Hạ Xuân Diệu 🌿 Những Bài Thơ Về Mùa Hè Hay Nhất

Bản quyền nội dung thuộc Nhất Việt Edu

Bài viết liên quan

Kỷ lục giữ sạch lưới cho Argentina của Emiliano Martinez
[Ngữ văn 8] Nói giảm nói tránh là gì? Khi nào nên nói giảm nói tránh
[Ngữ văn 8] Nói giảm nói tránh là gì? Khi nào nên nói giảm nói tránh
Cris Phan là ai? Tiểu sử, sự nghiệp, tình cảm của Cris Devil Gamer
Cris Phan là ai? Tiểu sử, sự nghiệp, tình cảm của Cris Devil Gamer
Đề thi GDCD 7 học kì 1 Kết nối tri thức năm học 2022 – 2023
Đề thi GDCD 7 học kì 1 Kết nối tri thức năm học 2022 – 2023
Vùng biển đông tiếp giáp với bao nhiêu quốc gia? – Luật ACC
Vùng biển đông tiếp giáp với bao nhiêu quốc gia? – Luật ACC
MTR là gì trên TikTok? Định nghĩa chính xác về MTR – Macstore
MTR là gì trên TikTok? Định nghĩa chính xác về MTR – Macstore
Ở đây đã có anh chị nào đọc cuốn sách “Không gục ngã” của nhà
Ở đây đã có anh chị nào đọc cuốn sách “Không gục ngã” của nhà
Thần thoại Nữ Oa Thị – Lịch sử Trung Quốc | Biên Niên Sử
Thần thoại Nữ Oa Thị – Lịch sử Trung Quốc | Biên Niên Sử