Phân tích 9 câu đầu Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm – Bút Bi

Dưới đây là danh sách Phân tích 9 câu đầu bài thơ đất nước hay nhất và đầy đủ nhất

Phân tích 9 câu đầu Đất nước (phân tích đất nước đoạn 1)- Đất nước là đoạn trích thuộc chương V của bản trường ca trong Mặt đường khát vọng của tác giả Nguyễn Khoa Điềm. Đất nước vừa là một trong những ý niệm thiêng liêng vừa là một hiện hữu. Thông qua tác phẩm, tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã diễn tả một hình ảnh Đất nước giản dị gần gũi nhất, với sự thân thương nhất của mỗi con người Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại. Sau đây là mẫu dàn ý 9 câu đầu bài Đất nước đã được ngắn gọn, cảm nhận 9 câu đầu bài Đất nước cũng đã giúp các em nắm được cách viết mở bài Đất Nước 9 câu đầu cũng như là kết bài 9 câu đầu Đất Nước sao cho thật hay và ấn tượng giúp đạt kết quả cao trong các kì thi sắp tới.

Tham khảo thêm:

  • Kết bài phân tích Đất Nước hay
  • Mở bài phân tích Đất Nước hay
  • Phân tích bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm
  • Soạn bài Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm

1. Dàn ý phân tích 9 câu đầu Đất Nước

a) Mở bài phân tích 9 câu đầu Đất Nước:

– Giới thiệu nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, trong trường ca Mặt đường khát vọng và ở trong chương Đất nước.

– Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ với phong cách thơ mang đậm chất trữ tình, lãng mạn chính luận.

– “Đất Nước” được trích từ trong chương V, trường ca Mặt đường khát vọng, sáng tác trong thời kỳ chiến trường khu vực Miền Nam vô cùng ác liệt. “Đất Nước” ra đời với mục đích khơi gợi tình yêu nước thẳm sâu, đã kêu gọi giới trẻ miền Nam hòa mình vào cuộc chiến của dân tộc.

b) Thân bài phân tích 9 câu đầu Đất Nước:

– Luận điểm 1: Đất nước đã có từ bao giờ?

  • Câu thơ đầu tiên là câu trả lời cho câu hỏi ấy: “Khi ta lớn lên Đất Nước cũng đã có rồi” Đất Nước là những thứ thân thuộc, gần gũi, và đã gắn bó với mỗi con người, ở trong mỗi con người từ khi phôi thai cũng đã thể hiện tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân”
  • Tác giả cảm nhận được đất nước bằng chiều sâu văn hóa – lịch sử và cuộc sống đời thường của chính mỗi con người qua cụm từ “ngày xửa ngày xưa” à gợi những bài học về đạo lý làm người qua những các câu chuyện cổ tích thấm đượm nghĩa tình.

– Luận điểm 2: Quá trình hình thành lên đất nước?

  • Bắt đầu với những phong tục ăn trầu gợi về hình ảnh người bà thân thuộc, gợi câu chuyện về sự tích trầu cau, đã nhắn nhủ nghĩa tình anh em sâu đậm, tình cảm vợ chồng nhân nghĩa thủy chung của những người yêu đất nước.
  • Hình ảnh “cây tre” cũng còn gợi lên hình ảnh của con người Việt Nam, cần cù, siêng năng, chịu thương và chịu khó. “Lớn lên” nghĩa là nói quá trình trưởng thành của Đất Nước, khi nói lớn lên trong chiến tranh nghĩa là nói truyền thống chống giặc kiên cường, rất bền bỉ.
  • Tập quán bới tóc sau đầu cũng để chú tâm làm việc, với câu gợi câu ca dao bình trị dạt dào thương nhớ. Nhắc nhở về tình cảm vợ chồng sắt son và rất sâu nặng qua hình ảnh: “gừng cay”, “muối mặn”.
  • Tái hiện nền văn hóa nước ta chỉ bằng một trong những câu thơ đơn sơ nhưng đầy dụng ý: “Hạt gạo cũng phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”. Nghệ thuật liệt kê, cùng đã cách ngắt nhịp liên tục thể hiện truyền thống lao động cần cù, với cách ăn cách ở trong sinh hoạt.
  • Nguyễn Khoa Điềm đã thâu tóm tất cả bằng một tư tưởng duy nhất: “Đất Nước có từ ngày đó…”. Dấu “…” cuối câu cũng chính là biện pháp tu từ im lặng, lời dẫu hết những ý vẫn còn, vẫn nung nấu và sục sôi.

⇒ Đất nước được hình thành lên và gắn liền với văn hóa, lối sống, phong tục tập quán của người Việt Nam, khi gắn liền với đời sống gia đình. Những gì làm nên Đất Nước cũng đã kết tinh thành những linh hồn dân tộc. Đất Nước vì thế hiện lên vừa thiêng liêng, khi tôn kính lại gần gũi thiết tha.

c) Kết bài phân tích 9 câu đầu Đất Nước:

Giọng thơ trữ tình chính luận, khi căng, khi tha thiết, khi lại cuồn cuộn nỗi niềm, đã thể hiện được tinh thần với chủ đạo của bài thơ thông qua các chất liệu văn hóa, văn học dân gian là: “Đất Nước của nhân dân”. Vì vậy, đoạn thơ cũng không chỉ trữ tình mà đầy sức chiến đấu.

2. Bài văn mẫu phân tích 9 câu đầu Đất Nước

Phân tích 9 câu đầu Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm (mẫu 1)

Bài văn mẫu số 1 phân tích đất nước 9 câu đầu (phân tích đất nước đoạn 1) đạt điểm 9+ để các bạn tham khảo:

Đất nước là một trong những đề tài muôn thuở gắn với sự thành công của nhiều cây bút trong các thời kỳ, nhất là thời kì kháng chiến. Ta không sao quên được hình ảnh đất nước hóa thân vào trong “mảnh hồn quê Kinh Bắc”, đất nước đã bị dày xéo dưới chân của bọn giặc ngoại xâm trong khung cảnh thơ của Hoàng Cầm hay hình ảnh một đất nước nhỏ bé, với đau thương mà anh hùng, bất khuất “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” trong thơ của tác giả Nguyễn Đình Thi. Đến với Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm, lại có khám phá mới về đất nước của ca dao, thần thoại khi đoạn trích Đất nước nằm trong chương năm của bản trường ca Mặt đường khát vọng. Với hình tượng trung tâm là đất nước, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã cho độc giả thấy được nhiều những tư tưởng mới mẻ của mình trong hành trình lí giải về cội nguồn mà đất nước mà đặc biệt là trong chín câu thơ đầu bài:

Xem thêm: Soạn bài Những câu hát than thân (ngắn gọn) – Giaibaitap.me

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nới lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó…

Đất nước chính là nguồn cảm hứng vô tận cho thơ ca, hình tượng đất nước luôn có một vị trí đặc biệt, là hình tượng cao quý, với ẹp đẽ nhất trong thơ văn. Macxen Prust: “Một cuộc thám hiểm không phải là ở chỗ cần một vùng đất mới mà ở chỗ cần một đôi mắt mới”. Bởi thế mà cũng với mỗi một điểm nhìn khác nhau thì đất nước lại có một vẻ đẹp, hình dáng khác, hiện lên đất nước hiện lên với muôn hình vạn trạng trong con mắt nhà thơ. Nếu như các nhà thơ cùng thời chọn điểm nhìn cùng cảm hứng về đất nước từ lịch sử đã thông qua các triều đại như:

Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc

Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn

Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc

Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng

Hay những hình ảnh vô cùng mỹ lệ, đẹp đẽ:

Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi

Rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt

Nắng sông Lô hò ô tiếng hát

Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca

Thì Nguyễn Khoa Điềm lại chọn cho bản thân mình một điểm nhìn vô cùng mới mẻ, bình dị, thân quen mà qua đó đất nước cũng đã hiện lên không kém phần tươi đẹp.

Với cấu trúc tổng phân hợp mang đậm phong cách chính luận, tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện những suy tư cùng với những cảm xúc mãnh liệt về đất nước và trách nhiệm của mỗi người đối với quê hương và tổ quốc.

Mở đầu bài thơ, tác giả Nguyễn Khoa Điềm đưa ta vào câu chuyện về sự hình thành của Đất nước mà cũng đã theo đó Đất nước có từ những gì quen thuộc, gần gũi nhất.

Xem thêm: Soạn bài Những câu hát than thân (ngắn gọn) – Giaibaitap.me

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Xem thêm: TOP 21 bài Giải thích câu tục ngữ Có chí thì nên SIÊU HAY

Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Câu thơ được mở đầu tự nhiên như một lời kể, nhà thơ mượn kí ức tuổi thơ để hình dung ra sự tồn tại của chính Đất nước trong nhận thức với chính tình cảm con người. Theo đó, “Đất Nước đã có từ rất lâu, từ khi mà “ta” cất lên tiếng khóc chào đời, lớn lên thì đất nước đã có và tồn tại cùng với chính “ta”. “Ta” ở đây phải chăng là anh, là chị, là những con người còn sống hay đã chết, là ta của quá khứ hay của tương lai, là cái chung của người dân tộc. Năm chữ “Đất Nước đã có rồi” vang lên đầy tự hào, khi nó giống như một lời khẳng định về nhiều sự trường tồn của đất nước qua hàng ngàn năm lịch sử đã dựng nước và giữ nước của nhân dân ta đã được Nguyễn Trãi đã nhắc đến:

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.

Đến hai câu tiếp theo, Nguyễn Khoa Điềm diễn tả cụ thể sự hình thành của Đất nước:

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Truy tìm về nơi cội nguồn của đất nước, khó có ai có thể xác định rõ ràng, minh bạch về sự khởi thuỷ của những hình tượng này. Với Nguyễn Khoa Điềm thì Đất nước cũng được hình thành từ những nét sống giản dị nhất của người mẹ và chính người bà. Sau trạng từ chỉ thời gian”ngày xửa ngày xưa”, khiến người đọc đã hình dung ra biết bao kỉ niệm về tuổi thơ cùng với những nhân vật như ông bụt, bà tiên, cô Tấm, Thánh Gióng… Từ những câu chuyện đó với hình ảnh Đất nước hiện lên thật đẹp đẽ, thơ mộng. Hình ảnh “miếng trầu bà ăn” gợi cho mỗi người đọc về truyền thống tốt đẹp của dân tộc khi hình ảnh “miếng trầu” gắn liền với nét đẹp của những người phụ nữ Việt xưa. Từ nét đẹp đó, tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã lý giải về sự “bắt đầu” của Đất nước. Trong cúng lễ, “miếng trầu quả cau” với biểu tượng cho tấm lòng thành của con cháu gửi đến khi những bậc cha ông. “Miếng trầu” còn là biểu tượng của phẩm của sự chất thuỷ chung trong cốt cách con người Việt Nam xưa và nay và bên cạnh đó, hình ảnh “miếng trầu”còn gợi lên một huyền sử của tình yêu”miếng trầu nên dâu nhà người”. Từ “lớn lên” chỉ sự trưởng thành với khi của đất nước qua quá trình đấu tranh khiến dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Với Nguyễn Khoa Điềm hay bất kì những nhà thơ nào, đất nước không hề vô tri vô giác mà đất nước có dáng, có hồn, vẻ đẹp ngất ngây trong con mắt nghệ thuật. Hình ảnh “trồng tre mà đánh giặc” với sự gợi cho ta về truyền thuyết một cậu bé mới ba tuổi đã biết cất tiếng khi nói trách nhiệm với quê hương, cho chính tổ quốc đó là Thánh Gióng, một biểu tượng cho cốt cách con người Việt, kiên cường, đúng nên mạnh mẽ trong đấu tranh chống lại cái ác. Hình tượng đó đã được nhà thơ Tố Hữu đưa vào thơ của mình:

Ta thuở xưa như thần Phù Đổng

Vụt đứng lên đánh đuổi giặc Ân

Sức nhân dân khoẻ như ngựa sắt

Chí căm thù ta rèn thép thành roi

Lửa chiến đấu ta phun vào mặt

Lũ sát nhân cướp nước hại nòi.

Hình ảnh cây tre đại diện cho cốt cách ngay thẳng không chịu bất khuất của con người Việt Nam:

Tre xanh xanh tự bao giờ

Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh

Thân gầy guộc, lá mong manh

Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi.

Nguyễn Khoa Điềm cũng đã đem hình tượng cây tre và Thánh Gióng song hành với nhau. Đó là sự đồng hiện trong cốt cách, một phẩm chất của con người Việt Nam như thật thà, chất phát, đôn hậu thuỷ chung, khi yêu hoà bình nhưng lại vô cùng kiên cường trong chiến đấu.

Đến bốn câu thơ tiếp theo, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm ca ngợi những truyền thống, vẻ đẹp thuần phong mỹ tục của chính con người Việt:

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn.

Có phải chăng hình tượng của người mẹ và người phụ nữ với búi tóc sau đầu đã làm sáng tỏ sự kín đáo, rất nhẹ nhàng mà chân chất trong cách ăn mặc của con người Việt Nam. Nét đẹp của những người phụ nữ ấy khiến ta liên tưởng đến câu thơ:

Tóc ngang lưng vừa chừng em búi

Để chi dài bối rối lòng anh

Vẻ đẹp của con người Việt còn ở khi chính phẩm chất thuỷ chung trong cốt cách của mình. Thành ngữ “gừng cay muối mặn” được vận dụng sự vô cùng độc đáo, nhẹ nhàng mà thấm đẫm với câu thơ. Gừng thì tất nhiên phải cay, cả muối tất nhiên phải mặn, đó là nguyên lý của chính tạo hoá cũng như tình cảm của những người vợ chồng luôn đong đầy và với sự không lay chuyển. Nó gợi lên ân tình thuỷ chung giữa người với người là:“Gừng càng già càng cay, muối càng lâu càng mặn.” con người ở với nhau càng lâu thì sẽ càng tình cảm càng đong đầy. Ý câu thơ được lấy ra từ chính câu ca dao:

Tay bưng đĩa muối chén gừng

Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau

“Cái kèo, cái cột thành tên” gợi lên cho ta nhớ đến tục làm nhà cổ của người Việt xưa. Ngôi nhà là nơi mọi người trong gia đình đoàn tụ, mang đến những sự ấm áp, hạnh phúc.. Có lẽ bởi vậy mà tục đặt tên cho con là “kèo”, là “cột” ra đời, khi vừa giản dị lại gần gũi và cũng tránh được sự dòm ngó của ma quỷ theo quan niệm xưa.

Không những vậy, khi con người Việt Nam còn mang trong mình phẩm chất cần cù, chăm chỉ. Thành ngữ “một nắng hai sương” chỉ những sự chịu thương chịu khó của ông cha ta trong lao động. Các động từ “xay”, “giã” và “dần”, “sàng” là các công đoạn làm ra hạt gạo, qua đó tác giả Nguyễn Khoa Điềm muốn nhắc người đọc cần phải biết trân trọng những hạt cơm ta đã ăn hằng ngày v