*Về hình thức, đoạn văn bắt đầu từ chữ viết hoa, lùi đầu dòng và kết

Dưới đây là danh sách Viết đoạn văn có xuống dòng không hay nhất được tổng hợp bởi Nhất Việt Edu nhất được tổng hợp bởi Nhất Việt Edu

đề. Dung lượng an toàn của một đoạn là 2/3 tờ giấy thi, tương đương khoảng20 dòng viết tay.Cần lưu ý nguyên tắc viết đoạn, tránh kể lể bàn luận lan man trùng lặp.Phần mở đoạn và kết đoạn chỉ nên viết trong một câu ngắn gọn. Trong đó mởđoạn giới thiệu vấn đề nghị luận, thân đoạn triển khai nội dung nghị luận, kếtđoạn viết về bài học cho bản thân…II. Cách viết đoạn văn trong đề thi môn Ngữ văn:1. Xác định và đáp ứng các yêu cầu của đề:- Về nội dung: Đề bài có thể trích dẫn hoặc khơng trích dẫn câu văn trong phầnđọc hiểu. Điều quan trọng là các em cần hiểu yêu cầu của đề và xác định hướngđi đúng đắn.+ Thứ nhất: Phải xác định được Đề bài yêu cầu viết về vấn đề gì? (nội dung củađoạn văn).Đây là yêu cầu quan trọng nhất, đòi hỏi người viết phải bày tỏ quan điểm cánhân rõ ràng.Cụ thể: Người viết hiểu vấn đề đó là gì (giải thích), tại sao lại nói như thế (phântích).+ Thứ hai: Cần phải có dẫn chứng thuyết phục bằng các ví dụ cụ thể trong đờisống.+ Thứ ba: Phải đánh giá và nêu thái độ của người viết trước vấn đề đang bànluận. Cần nêu ra những bài học nhận thức sau khi bàn luận. Từ đó, đề xuấtnhững giải pháp thiết thực và khả thi cho bản thân mình và tất cả mọi người.2. Hai loại đoạn văn thường gặp:Dạng 1: Bàn luận về một tư tưởng, đạo lí:- Đề bài thường trích một câu trong đọc hiểu để yêu cầu thí sinh bày tỏ ý kiến,bàn luận. Cũng có những đề bài khơng trích dẫn văn bản mà trực tiếp nên vấnđề cần nghị luận.Để nắm vững phần này, các em nên ÔN TẬP THEO CHỦ ĐỀ. Các vấn đề từcâu nói thường yêu cầu bàn luận như:+ Nhận thức: lí tưởng, khát vọng, niềm đam mê, mục đích sống…+ Phẩm chất: lòng u nước, tính trung thực, lòng dũng cảm, sự khiêm tốn, sựtự học, lòng ham hiểu biết, sự cầu thị…+ Quan hệ gia đình: tình mẫu tử, tình anh em…+ Quan hệ xã hội: tình bạn, tình thầy trò, tình đồng bào…+ Cách ứng xử của mọi người trong cuộc sống: lòng nhân ái, thái độ hòa nhã, sựvị tha…+ Các tư tưởng lệch lạc, tiêu cực: ích kỉ, thực dụng, dối trá, hèn nhát…Cấu trúc chung của đoạn văn:Mở đoạn: (khoảng 2 dòng)Dẫn dắt vào vấn đềTrích dẫn câu nói.Thân đoạn:Bước 1: Giải thích ý nghĩa câu nói/ vấn đề.u cầu:21+ Chỉ giải thích những từ ngữ, hình ảnh còn ẩn ý hoặc chưa rõ nghĩa.+ Phải đi từ yếu tố nhỏ đến yếu tố lớn: giải thích từ ngữ, hình ảnh ẩn ý trước rồimới khái quát ý nghĩa của cả câu nói.+ Nên dựa vào nơi dung phần Đọc hiểu để giải thích ý nghĩa, tránh suy diễn tùytiện. Bởi vì có những câu nói khi đứng độc lập thì nó có ý nghĩa khác so vớinghĩa trong văn cảnhNếu đề bài khơng trích dẫn câu nói thì chỉ cần giải thích ngắn gọn khái niệm/vấn đề cần bàn luận.Bước 2: Bình luận, nêu quan điểm của cá nhân (thấy đúng, sai hay cả đúngcả sai). Lý giải quan điểm đó (Vì sao đúng? Vì sao sai?)u cầu:+ Phân tách các vế của câu nói để xem xét cặn kẽ, thấu đáo.+ Khi bàn luận, cần có căn cứ khách quan.Bước 3: Minh chứng bằng các dẫn chứng, ví dụ cụ thể (Biểu hiện như thếnào?)Yêu cầu:+ Dẫn chứng phải tiêu biểu, hợp lí, phục vụ cho việc bàn luận.+ Nên kết hợp dẫn chứng lịch sử – hiện tại, trong nước – ngoài nước, người nổitiếng – người bình thường… sao cho phong phú và có sức thuyết phục.Bước 4: Luận bàn mở rộng vấn đề: Phê phán điểm hạn chế, phân tích mặttích cực.Bước 5: Áp dụng tư tưởng đạo lí vào trong thực tế: Nêu bài học nhận thứcvà hành động (Cần phải làm gì?)Yêu cầu:+ Bài học phải được rút ra từ chính tư tưởng, đạo lí mà đề bài yêu cầu bàn luận.+ Bài học cần chân thành, giản dị, hướng tới tuổi trẻ, khơng sáo rỗng, hình thức.+ Nên rút ra hai bài học, một bài học về nhận thức, một bài học về hành động.Kết đoạn:Đưa ra một thông điệp hay một lời khuyên cho mọi người.Lưu ý : Có những dạng “đề nổi” , xác định rõ phạm vi nội dung bài viết. Các emcần xác định rõ đâu là luận điểm chính, đâu là luận điểm phụ , khơng phải tất cảcác bước đều triển khai dung lượng như nhau.Ví dụ : Bàn về vai trò của lòng khoan dung…Với đề bài này, sau khi giải thích khái niệm, biểu hiện, các em cần làm rõ vai tròcủa lòng khoan dung trong cuộc sống. Đây là luận điểm chính, then chốt của bàiviếtDạng 2: Bàn luận về một hiện tượng đời sốngPhân loại :- Các hiện tượng tích cực trong đời sống: tương thân tương ái, tự học thànhtài…- Các hiện tượng tiêu cực trong đời sống: ô nhiễm môi trường, thực phẩm bẩn,tai nạn giao thông, gian lân trong thi cử…- Các hiện tượng hai mặt: đam mê thần tượng, du học rồi ở lại nước ngoài,mạng xã hội…b. Dàn ý chung:22- Mở đoạn:+ Dẫn dắt vào hiện tượng.+ Nêu thái độ đánh giá về hiện tượng.- Thân đoạn:+ Bước 1: Nêu rõ thực trạng, các biểu hiện cụ thể của hiện tượng trong đời sống(Nó như thế nào?)+ Bước 2: Nêu nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên (Nguyên nhân khách quanvà chủ quan; Nguyên nhân sâu xa và trực tiếp).+ Bước 3: Nêu thái độ đánh giá, nhận định về mặt đúng – sai, lợi – hại, kết quả- hậu quả, biểu dương – phê phán.+ Bước 4: Biện pháp khắc phục hậu quả hoặc phát huy kết quả. (Cần phải làmgì?)+ Bước 5: Liên hệ bản thân, rút ra bài học nhận thức và hành động cho mình.- Kết đoạn:Đưa ra thơng điệp hay lời khuyên cho tất cả mọi người.Đặc biệt lưu ý : Trên đây chỉ là dàn ý chung cho đoạn văn bàn về hiện tượng đờisống. Tùy vào từng đề thi cụ thể, các em cần linh hoạt khi làm bài. Có những đềthi khơng nhất thiết phải triển khai đầy đủ các bước, có thể nhấn mạnh vấn đềđang bàn luận.Ví dụ : Đề bài yêu cầu anh/ chị hãy bình luận về nguyên nhân và giải pháp đểkhắc phục hiện tượng trên. Thì chúng ta cần làm rõ nguyên nhân và đề xuấtđược những giải pháp đúng đắn, thuyết phục người đọc. Những luận điểm phụchỉ là tiền đề để triển khai luận điểm chính. Tránh viết chung chung, dàn trải.3 . Các bước viết đoạn văn hoàn chỉnh :*Sau khi tìm được những ý chính cho đoạn văn, chúng ta tiến hành viết câu mởđầu.+ Câu mở đầu có nhiệm vụ dẫn dắt vấn đề.+ Đối với đoạn văn trong đề đọc hiểu, nên dẫn dắt từ nội dung/ câu nói của vănbản được trích dẫn.- Đoạn văn có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cách đơn giảnnhất phù hợp với học sinh yếu là trình bày theo kiểu diễn dịch:+ Tức là câu chủ đề nằm ở đầu đoạn (thường là lời bày tỏ ý kiến đánh giá, nhậnxét câu nói/ vấn đề).+ Các câu sau triển khai ý, làm rõ ý của câu mở đầu (ý kiến đánh giá, nhận xétcâu nói/ vấn đề).* Viết các câu nối tiếp câu mở đầu :- Các câu nối tiếp lần lượt sử dụng các thao tác lập luận: Giải thích – Phân tích- Chứng minh – Bình luận – Bác bỏ – Bình luận mở rộng.- Viết câu kết của đoạn văn :+ Câu kết của đoạn có nhiệm vụ kết thúc vấn đề.+ Dù đoạn văn dài hay ngắn thì câu kết cũng giữ vai trò quan trọng, để lại ấntượng cho người đọc. Câu kết có thể nêu cảm xúc cá nhân, mở rộng vấnđề (nêu bài học chung), hoặc tóm lược vấn đề vừa trình bày23Trên đây là cách nhận diện và viết một đoạn văn nghị luận xã hội , tuy nhiênmuốn đạt điểm tối đa trong phần này đòi hỏi tính kiên trì rèn luyện và sự sángtạo từ phía bản thân học sinh“RÈN KỸ NĂNG LÀM BÀI TẬP ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINHTHPT”Người thực hiện: Trần Thị HạnhNgày 01/4/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã gửi Công văn số1656/BGDĐT-KTKĐCLGD về việc hướng dẫn tổ chức thi tốt nghiệp Trung họcphổ thơng năm 2014, trong đó có nội dung: Đề thi mơn ngữ văn có 2 phần: Đọchiểu và làm văn. Bộ lưu ý việc thực hiện việc đổi mới kiểm tra đánh giá chấtlượng học tập môn Ngữ văn trong kì thi tốt nghiệp THPT, thực hiện theo hướngđánh giá năng lực học sinh nhưng ở mức độ phù hợp. Cụ thể là tập trung đánhgiá hai kỹ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu văn bản và kĩ năng viết văn bản.Đề thi gồm hai phần: Đọc hiểu và Tự luận (làm văn), trong đó tỷ lệ điểm củaphần viết nhiều hơn phần Đọc hiểu.Đây là xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá sự ghi nhớ những kiến thức củahọc sinh chuyển sang kiểm tra đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh (tự mìnhkhám phá văn bản). Dạng câu hỏi Đọc hiểu bắt đầu được đưa vào đề thi để thay24thế cho dạng câu hỏi tái hiện kiến thức. Có thể nói đây là sự đổi mới tích cựctrong cách ra đề Ngữ văn theo định hướng mới. Nếu dạng câu hỏi tái hiện kiếnthức chỉ có thể kiểm tra học sinh ở mức nhận biết, thơng hiểu, có biết, hiểu, nắmđược những kiến thức văn học đã được dạy trong chương trình hay khơng thìdạng câu hỏi Đọc hiểu đã nâng cao hơn một mức vận dung thấp, vận dụng sángtạo, kiểm tra, phát triển được năng lực tự cảm nhận một văn bản bất kì. (có thểvăn bản đó hồn tồn xa lạ đối với các em) Như vậy có thể thấy, bên cạnh việcôn tập, rèn kỹ năng viết phần tự luận thì việc ơn tập và rèn kỹ năng làm dạngcâu hỏi đọc hiểu là điều cần thiết phải trang bị cho học sinh.Đọc hiểu văn bản là một trong hai phần bắt buộc có trong một đề kiểm tra,đề thi. Phần này tuy không chiếm phần lớn số điểm nhưng lại có vị trí rất quantrong bởi nó quyết định điểm cao hay thấp trong một bài thi. Nếu học sinh làmsai hết phần này thì chắc chắn điểm tồn bài còn lại dù có tốt mấy cũng chỉ đạtkhoảng 6,0 điểm. Ngược lại nếu học sinh làm tốt phần đọc hiểu các em sẽ cónhiều cơ hội đạt điểm văn 7,0 hoặc 8,0. Như vậy phần Đọc hiểu góp phầnkhơng nhỏ vào kết quả kiểm tra, kết quả thi mơn Văn. Chính vì vậy, rèn luyện kĩnăng đọc hiểu cho học sinh như thế nào để đạt hiệu quả tối ưu là điều mà bất cứgiáo viên dạyVăn nào cũng phải quan tâm.* Đề xuất cách hướng dẫn học sinh rèn kĩ năng làm bài tập đọc hiểu1. Ôn luyện lý thuyết Đọc hiểu: Học sinh nắm bắt được những dạng kiến thứclý thuyết liên quan đến câu hỏi Đọc hiểu trong đề kiểm tra. Bao gồm các dạngnhư:- Các loại phong cách ngôn ngữ- Các phương thức biểu đạt- Các thao tác lập luận- Các biện pháp tu từ- Các phép liên kết- Phân biệt các thể thơ- Xác định nội dung, chi tiết, hình ảnh chính trong văn bản (nhan đề, chủ đề, chitiết, hình ảnh đặc sắc)- Viết một đoạn văn ngắn trình bày quan điểm của cá nhân về một vấn đề củacuộc sống có liên quan đến văn bản.2. Một số lưu ý về phương pháp làm đề Đọc hiểuHọc sinh cần chú ý cách làm bài như sau:Về trình bày: Học sinh cần phải trình bày khoa học, khơng nên tẩy xóa ,viết chèn dòng trong bài. Nếu có sai thì gạch chéo và làm lại. Cần dùng các kíhiệu thống nhất với đề bài.Về nhận diện câu hỏi:Đọc kĩ yêu cầu đề để xác định nội dung câu hỏi cómấy ý, từ đó trả lời cho đúng, trúng vấn đề. Ví dụ nếu đề hỏi chỉ ra các phươngthức/ các thao tác lập luận trong văn bản trên thì câu trả lời sẽ từ hai phươngthức/ hai thao tác trở lên. Nhưng nếu câu hỏi chỉ ra thao tác nào/ phương thứcnào là chính hoặc chủ yếu thì câu trả lời chỉ là một phương thức/ một thao tác.Về cách trả lời: Văn bản đọc hiểu thường không dài nên yêu cầu học sinhđọc văn bản để chọn câu trả lời cho phù hợp. Các em cần đọ lướt để tìm chủ đề25hoặc ý chính, đọc kĩ để tìm chi tiết, thơng tin. Câu trả lời cần trực tiếp, ngắngọn, chính xác, đầy đủ. Hỏi gì trả lời đó, khơng trả lời thừa.Thực tế chấm thi cho thấy, nhiều học sinh làm phần Đọc hiểu lan man, nhấtlà những dạng câu hỏi: nêu nội dung chính, lý giải vì sao tác giả lại cho là vậy,hoặc viết một đoạn văn … có em viết gần một trang giấy. Các em làm khôngđúng yêu cầu phương pháp vừa mất thời gian mà điểm số cũng khơng cao hơnđược. Ví dụ phần câu hỏi liên tưởng thực tế đề thường yêu cầu viết khoảng 5-7dòng. Giáo viên nhắc nhở học sinh viết khoảng 7 dòng và nếu viết thêm thìkhơng q 10 dòng. Ở câu hỏi này học sinh cũng không cần dẫn dắt vào đềtránh bài viết lan man, quá quy định.* Hướng dẫn học sinh thực hiện việc đọc hiểu một văn bản theo trìnhtự các bước như sau:Bước 1: Đọc văn bản (đọc toàn bộ một lần ) và phân loại văn bản.Bước 2: Tìm hiểu nội dung chính của văn bản bằng cách xác định câu chủ đề,các từ ngữ quan trọng và tần suất xuất hiện của chúng, tìm các ý chính…; tómtắt ý chính bằng những câu văn ngắn gọn.Bước 3: Nhận diện các hình thức biểu đạt trong văn bản, chỉ ra các yếu tố hìnhthức nổi bật nhất và phân tích tác dụng của chúng (tùy theo từng thể loại mà cósự chú ý khác nhau).Bước 4: Tìm hiểu mục đích và ý nghĩa của văn bản: văn bản được viết để làmgì? Người viết muốn nhấn mạnh, muốn gửi gắm điều gì?.Bước 5: Đánh giá giá trị của văn bản(đem lại cho ta điều gì: về mặt nhận thức,về tư tưởng, tình cảm, về cảm thụ cái hay cái đẹp…).Lưu ý: Đây là quy trình chung có tính chất tổng thể. Tùy theo mức độ yêucầu, độ dài và thời gian dành cho từng bài tập cụ thể, học sinh có thể khơng cầnthực hiện hết hoặc đúng trình tự các bước nhưng phải nắm được và vận dụngthành thục tất cả các bước.“CHÚ TRỌNG KHÂU ĐỔI MỚI HÌNH THỨC KIỂM TRA,ĐÁNH GIÁ TRONG MÔN NGỮ VĂN BẬC THPT”Người thực hiện : Hồ Thị Thu HươngI.Tác dụng của việc đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá.Kiểm tra đánh giá chất lượng học tập là một khâu quan trọng trong quátrình dạy học ở nhà trường phổ thông, giúp đánh giá năng lực người học và điềuchỉnh phương pháp dạy học, nó có tác động trực tiếp đến kết quả đánh giá cuốinăm ,đặc biệt là kì thi THPT QG. Nếu thực hiện được việc kiểm tra đánh giáhướng vào đánh giá quá trình, giúp phát triển năng lực người học, thì lúc đó qtrình dạy học trở nên tích cực hơn rất nhiều. Q trình đó sẽ nhắm đến mục tiêuxa hơn, đó là nuôi dưỡng hứng thú học đường, tạo sự tự giác trong học tập vàquan trọng hơn là gieo vào lòng học sinh sự tự tin, niềm tin “người khác làmđược mình cũng sẽ làm được”… Điều này vơ cùng quan trọng để tạo ra mã sốthành công của mỗi học sinh trong tương lai.26Đánh giá phải diễn ra trong suốt quá trình dạy học, giúp học sinh liên tụcđược phản hồi để biết mình mắc lỗi, thiếu hoặc yếu ở điểm nào để cả giáo viênvà học sinh cùng điều chỉnh hoạt động dạy và học. Đánh giá phải tạo ra sự pháttriển, phải nâng cao năng lực của người học, tức là giúp các em hình thành khảnăng tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau trong đó có năng lực đọc , năng lực cảmnhận/ tiếp nhận văn học và năng lực viếtTrong quá trình giảng dạy hầu như giáo viên sử dụng rất hạn chế các hìnhthức đánh giá mới, hiện đại, phần lớn sử dụng có tính truyền thống: dựa vàoviết luận, làm các bàì tập như kiểm tra 15 phút, 1 tiết… , Khi giáo viên chưa đadạng hóa các kiểu đánh giá sẽ làm cho hoạt động học tập trở nên nhàm chán, sẽkhó phát triển các năng lực bậc cao ở người học (như năng lực giải quyết vấnđề, năng lực tư duy sáng tạo…). Muốn làm tốt thì phải có những đổi mới.II. Các hình thức đổi mới kiểm tra, đánh giá.1.Đổi mới ở khâu ra đề kiểm tra:Đề phải thực hiện theo phương án mở ( như đề mở ,đáp án mở ), ngồi ra cầnchú trọng tính đa chiều GV-HS,HS-GV, HS-HS để từ đó có mối liên hệ đánh giáqua lại sâu sắc hơn.,Kiểm tra đánh giá phải được thực hiện dưới rất nhiều hình thức, dưới dạngtrò chơi, các bài tập về nhà, bài luận ngắn, kiểm tra đánh giá cũng cần tuân thủtheo ma trận đề đã được xác lập ở các cấp độ tư duy khác nhau ( như nhận biết,thông hiểu, vận dụng thấp hay cao, phân tích, sáng tạo ) tùy vào đối tượng đểcó đánh giá phù hợp và đảm bảo tính tồn diện và cơng bằng.Trong q trình ra đề, giáo viên cần tăng cường các câu hỏi gắn với thựctiễn đời sống. Có thể ra đề về những vấn đề gần gũi với học sinh, thanh niên,những vấn đề mang tính thời sự như về việc học tập, về đọc sách, giải trí, vềinternet hoặc về văn hóa, thiên nhiên, mơi trường. tăng cường ra các câu hỏimở, gắn với thời sự quê hương, đất nước để học sinh được bày tỏ chính kiếncủa mình về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội.. Đối với loại đề nghị luận vănhọc thì cần coi trọng đánh giá năng lực vận dụng các kĩ năng đã học, tránh họcvẹt, học tủ. Vì thế, nói chung khơng nên ra đề hồn tồn vào những văn bản đãđược giảng kỹ trong chương trình, mà cần đưa ra những văn bản mới để thísinh thể hiện năng lực đọc hiểu của mình2. Đổi mới ở hình thức đánh giá.- Kiểm tra đánh giá phải cơng bằng và bằng nhiều hình thức ( bài cũ, bài tậpcác dạng )-Trong quá trình dạy GV áp dụng đa dạng các hình thức đánh giá,đánh giá bằng trắc nghiệm, bằng kiểm tra viết tự luận, đánh giá bằng sản phẩm,bằng hồ sơ học sinh, bằng trình bày miệng, thảo luận/ tranh luận thơng quatương tác của nhóm, thơng qua các sản phẩm của nhóm..- Giáo viên phải tổ chức, hướng dẫn để học sinh biết cách tự đánh giá, họcsinh được đánh giá lẫn nhau, mọi sự đổi mới kiểm tra đánh giá phải làm cho họcsinh tích cực hơn, nỗ lực hơn và phải dẫn đến sự biến đổi ở người học (khôngchỉ là làm chủ kiến thức, kỹ năng… mà quan trọng hơn thay đổi cả thái độ,niềm tin.3. Đổi mới ở khâu chấm điểm.27a.-Kiểm tra miệng:Không nên chỉ kiểm tra vấn đáp vào 15 phút đầu giờ và chỉ kiểm trakiến thức của bài vừa học. Hình thức kiểm tra vấn đáp có thể sử dụng ở mọithời điểm trong tiết học Ngữ văn. Từ tìm hiểu bài mới vận dụng các kiểmtra kỹ năng có liên quan để tìm hiểu bài mới; luyện tập đọc, nghe, nói, viếtcho mọi đối tượng học sinh với nhiều u cầu và mục đích khác nhau. Dovậy cũng khơng cần thiết yêu cầu học sinh lên bảng để trả lời.- Chia lớp thành nhóm cùng thảo luận một vấn đề bằng hình thức chấtvấn lẫn nhau.- Chất vấn lẫn nhau là thói quen của tuổi trẻ, thường đặt ra nhiều câuhỏi nhằm dồn đối phương vào thế bí. Có thể tận dụng tính cách này đề kiểm tralại kiến thức bài cũ.b.Kiểm tra viết:- GV cần chú trọng việc trả bài cho các em, bởi qua công tác trả bài chu đáosẽ giúp các em điều chỉnh thiếu sót trong bài làm của mình. GV cần có nhữnglời phê mang tính động viên khuyến khích, tránh những lời phê làm các em mấtđi hứng thú học tập hoặc làm thui chột sự sáng tạo của các em.- Qua mỗi lần kiểm tra đánh giá cần xem xét sự tiến bộ của các em, trân trọngsự tiến bộ đó dù là rất nhỏ. Đặc biệt, chú trọng việc động viên khích lệ qua mỗilần các em được kiểm tra đánh giá.- Đánh giá rút kinh nghiệm: Để có được tiết học tốt, dạy học hiệu quả thì Giáoviên cần rút ra những bài học những kinh nghiệm sau những giờ lên lớp( có thểtừ bản thân, từ đồng nghiệp, hay từ học sinh).- Điểm yếu khác trong đánh giá học sinh hiện tại là đánh giá (chấm điểm) màkhơng có sự phản hồi cho học sinh. Cô chấm bài kiểm tra, thường chỉ cho điểmhoặc chỉ phê “sai”, “làm lại” hay chỉ viết ký hiệu sai hay ký hiệu đúng chứ chưagiải thích được rõ cho học sinh biết tại sao sai, sai như thế nào.- Một số GV chấm bài có sự phản hồi nhưng phản hồi khơng đủ, phản hồi tiêucực, khơng mang tính xây dựng (Vi dụ, GV phê: làm sai, làm ẩu, không hiểu…làm học sinh mất niềm tin, khơng có động lực để sửa lỗi), làm cho người họcchán nản… Bên cạnh đó, nếu GV có phản hồi chung (chữa bài kiểm tra trênlớp) lại thường đưa ra lời giải đúng theo cách tư duy “áp đặt” của GV, màkhơng giúp phân tích mổ sẻ những cách tư duy chưa phù hợp của học sinh dẫnđến sự sai sót.Việc đánh giá đúng chất lượng bài làm của học sinh có tác dụng khuyếnkhích, uốn nắn việc rèn luyện của các em. Ngược lại, việc đánh giá sai, thiên vịhay thành kiến sẽ làm mất niềm tin, gây tâm lý chán nản, bất bình ở học sinh. Vìthế giáo viên cần có thái độ cơng tâm, khách quan, điềm tĩnh khi chấm bài vàviết lời phê.Nội dung lời phê phải khái quát được những ưu khuyết của bài làm thể hiệntrên các phương diện: Nhận thức đề, bố cục và nội dung bài làm, hình thức bàilàm (bao gồm: Diễn đạt, dùng từ, trình bày…). Từ đó, giúp các em thấy đượcưu, nhược ở mỗi bài làm. Lời phê phải gẫy gọn, sáng rõ ,Không nên dùngnhững lời nhận xét chung chung, ít bổ ích, chỉ mang tính xếp loại. Khi cho28điểm, cần chú ý đến tương quan giữa nội dung lời phê và điểm số. Giáo viênchấm bài làm văn thực chất là đánh giá, là “đo” năng lực nhận thức và vậndụng kiến thức, kỹ năng các phân môn làm văn, đọc văn, tiếng Việt của họcsinh để giải quyết vấn đề do đề bài đặt.Là những giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở phải đối mặt, áp lực về mụctiêu, nhiệm vụ đặt ra cho nhà trường không chỉ của ngành Giáo dục mà còn làcủa tồn xã hội. Chúng tơi ln trăn trở, làm thế nào để nâng cao chất lượng dạyvà học Văn, đặc biệt là trong tình hình hiện nay, Các giải pháp mà chúng tôiđưa ra tuy chưa nhiều nhưng Tôi nghĩ là khá thiết thực. Song để đạt được hiệuquả như mong muốn cần có một giải pháp đồng bộ từ chương trình Sách giáokhoa của Bộ đến sự chỉ đạo của lãnh đạo Sở và Ban giám hiệu nhà trường và tấtnhiên không thể thiếu vai trò của người thầy, ý thức học tập của học sinh và sựủng hộ đồng tình của tồn xã hội. Có thể, những ý kiến của tơi đưa ra chưa thựcsự đầy đủ, bởi có rất nhiều cách, nhiều con đường khác nhau để cải thiện tìnhtrạng hiện nay của môn Văn, nhưng chúng tôi tin vào con đường mà chúng tôiđã và đang đi và cũng hi vọng gợi mở cho các đồng nghiệp và các vị đại biểutham gia Hội thảo nhiều suy nghĩ.“RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM THI THPT QUỐC GIAỞ BỘ MÔN NGỮ VĂN”Trước nhất cần thay đổi cách đánh giá về bộ môn ở học sinh: cho học sinhthấy Văn học cần thiết và tiện ích cho học sinh khi chuẩn bị hành trang vào đời.Văn học sẽ làm đẹp nhân cách và cuộc sống hơn. Giá trị của văn học là thiếtthực và luôn luôn tồn tại trong cuộc sống. Định hướng nghề nghiệp cho họcsinh với các ngành xã hội đang cần, thi khối C, D để tránh việc học sinh đặtnặng vào các môn tự nhiên mà bỏ rơi các môn xã hội, đặc biệt là bộ mơn ngữvăn.Có Kỹ năng giảng dạy ; Dạy học sinh kỹ năng làm bài29Với cấu trúc mới này giáo viên cần hướng dẫn các em cách làm từng dạngbài cụ thể đặc biệt là đối với đối tượng học sinh chỉ học môn văn để xét tốtnghiệp1. Với phần Đọc – hiểu:Bắt đầu từ đâu?Với 3 mức độ: Nhận biết, thông hiểu và vận dụng thấp, các thí sinh học Tựnhiên hay xã hội đều có thể đạt từ 2 điểm phần đọc hiểu. Các em không thể họcôn tất cả từng bài từTHCS nhưng cần quan tâm trọng điểm sau:Thứ nhất: Nhận biết 6 phong cách ngôn ngữ văn bản. Dựa ngay vào các xuấtxứ ghi dưới phần trích của đề bài để chọn. Báo chí, Văn chương nghệ thuật,Khoa học, Chính luận,Khẩu ngữ hay Hành chính cơng vụ.Thứ hai: Xác định 5 phương thức biểu đạt của văn bản dựa vào các từ ngữhay cách trình bày. Đoạn trích thấy có sự việc diễn biến (Tự sự), nhiều từ biểulộ xúc động (Biểu cảm), nhiều từ khen chê, bộc lộ thái độ (Nghị luận), nhiều từthuyết trình, giới thiệu về đối tượng (Thuyết minh) và có nhiều từ láy, từ gợi tảsự vật, sự việc (Miêu tả).Thứ ba: Nhận biết các phép tu từ từ vựng (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, lặp từ, nóiquá, nói giảm, chơi chữ…); tu từ cú pháp (lặp cấu trúc câu, giống kiểu câutrước; đảo ngữ; câu hỏi tu từ; liệt kê.). Các biện pháp tu từ có tác dụng làm rõđối tượng nói đến, tăng thêm gợi cảm, gợi hình ảnh, âm thanh, màu sắc, làmđối tượng hấp dẫn, sâu sắc.Thứ tư : Đọc kỹ đoạn trích trong đề bài, đặt tên nhan đề, nêu đại ý, hay cảmxúc trong đoạn văn ngắn 5-7 dòng. Thí sinh cần trả lời các câu hỏi: Đoạn tríchviết về ai? Vấn đề gì? Biểu hiện như thế nào? Đặt trong tình huống bản thân đểnêu hành động cần thiết.Thứ năm: Văn bản trong đề chưa thấy bao giờ nên các trò cần đọc nhiều lầnđể hiểu từng câu, từng từ, hiểu nghĩa và biểu tượng qua cách trình bày văn bản,liên kết câu, cách ngắt dòng…Vì thế học sinh cần làm ngay: Sử dụng hiệu quả thời gian học ôn trên lớp,cố nhớ bài thầy cô ôn tập; Hỏi thầy cơ ngay những gì chưa hiểu, chưa rõ, dù lànghĩa một từ, một câu; Viết đúng từ ngữ, trình bày rõ ràng, đúng chính tả, dấucâu, khơng viết dài; Chỉ dùng thời gian khoảng 15 phút làm câu hỏi đọc hiểu.Trả lời đúng câu hỏi của đề; Làm trọn vẹn từng câu, không bỏ ý, không viết vộivàng để giành chắc chắn từng 0,25 điểm2. Với phần Làm vănCâu 1. Viết đoạn văn NLXH cầnMột là viết đúng trọng tâm yêu cầu của đề. Nên viết theo đoạn diễn dịch.Câu chủ đề phải viết đúng vào yêu cầu của đề bài. Phải có từ khóa của đề trongcâu mở đoạn. Các câu sau đó phải tuyệt đối đúng – trúng vào nội dung.Hai là kết lại đoạn văn bằng 2-3 câu bày tỏ cái tơi của mình hoặc rút ra bài30học.Ba là bài yêu cầu viết (200 từ ) thì có thể ước lượng để viết . Khơng ai ngồiđếm bài mình có bao nhiêu câu cả.Câu 2. Viết bàivăn NLVH cầnVới câu cảm thụ văn học để đạt điểm cao các em cần: Xác định đầy đủ,chính xác yêu cầu của đề thi trong khoảng thời gian nhanh nhất ; Vận dụngchính xác linh hoạt, nhuần nhuyễn các kiểu bài các kỹ năng và các thao tác nghịluận; Có bố cục rõ ràng.Cũng cần lưu ý: Trong quá trình làm bài cần phân bố thời gian hợp lý, khôngđược bỏ bât cứ câu nào ; giáo viên hãy dạy các em biết chắt chiu từng chútđiểm nhỏ như thế. Bởi bài văn đạt điểm cao bao giờ cũng được làm nên từnhững điểm số nhỏ trong từng ý từng câu.Bên cạnh truyền đạt kiến thức, kỹ năng giáo viên cũng cần : Tổ chức cáchoạt động ngoại khóa cho các em tham gia trên tinh thần học tập, giải trí tíchcực. giúp các em u thích mơn học hơn.Việc giải trí nhỏ trong từng tiết học,cũng làm tiết học trở nên vui nhộn, nhẹ nhàng, thoải mái hơn.Nghiêm túc hơn khi chấm bài và sửa bài cho học sinh, phải ghi rõ những lỗisai trong bài làm và cách sửa cho các em thấy được hết những hạn chế của mìnhmà rút kinh nghiệm cho bản thân. Khuyến khích tinh thần tự học của các emnhư chỉ cho các em đọc tham khảo những bài viết có liên quan đến bài học.Một biện pháp cần thiết và quan trọng là phát phiếu thu nhận ý kiến thườngxuyên đến học sinh. Các em có quyền tự do phát biểu, nhận xét về khơng khíhọc tập, phương pháp dạy học, thái độ của giáo viên với học sinh,… trên phiếucó thể gợi ý cho học sinh đưa ra phương pháp nào là tốt nhất cho các em tiếpthu bài nhanh nhất, đạt kết quả cao nhất, làm thế nào để học sinh có cảm giácthoải mái nhất, vui nhất khi đến giờ văn.Đó là những giải pháp với đối tượng học sinh chỉ thi mơn văn để xét tốtnghiệp. Còn đối với những em sử dụng môn Văn để xét tuyển vào các trườngđại học thì đương nhiên các em đã yêu quý và chú tâm tới môn học này rồi.Giáo viên dạy sâu hơn về kiến thức rèn cho các em kỹ năng diễn đạt thông quacác đề luyện và chấm chữa bài.3. Sự hợp tác của học sinh và phụ huynh học sinhMặc dù, môn Văn đã trở thành 3 môn thi bắt buộc trong kỳ thi THPTQG,song sự hợp tác của học sinh và phụ huynh với môn học vẫn chưa cao. Thực tếhiện nay các ngành khoa học xã hội đang bị “ rớt điểm” nghiêm trọng trong nấcthanh ngành nghề của xã hội, chính vì vậy học sinh thiếu tâm huyết với mônhọc. Lúc này, giáo viên phải bằng tấm lòng và sự hiểu biết của mình để giảnggiải, thuyết phục, khơi gợi lên cho học sinh và phụ huynh niềm tin, định hướngtương lai. Việc làm này sẽ tạo lập được mối quan hệ thầy trò gắn bó, thầy cơ đãtrở thành chỗ dựa tinh thần tin cậy cho học sinh. Ở lĩnh vực này, giáo viên dạyVăn hơm nay còn phải là những nhà hướng đạo sinh có kinh nghiệm cho họcsinh về tương lai.5. Vai trò của CNTT31

Bản quyền nội dung thuộc Nhất Việt Edu

Bài viết liên quan

Phân tích khổ 1 bài thơ Tây Tiến – Dàn ý chi tiết và 3 bài mẫu siêu hay
Phân tích khổ 1 bài thơ Tây Tiến – Dàn ý chi tiết và 3 bài mẫu siêu hay
Dàn ý 16 câu thơ cuối việt bắc câu hỏi 2820050 – Hoidap247.com
Dàn ý 16 câu thơ cuối việt bắc câu hỏi 2820050 – Hoidap247.com
Tả ngôi trường bằng Tiếng Anh lớp 6 (3 mẫu) – TBDN
Tả ngôi trường bằng Tiếng Anh lớp 6 (3 mẫu) – TBDN
Hình tượng thật của “ngọn đuốc sống” Lê Văn Tám – Webtretho
Hình tượng thật của “ngọn đuốc sống” Lê Văn Tám – Webtretho
Viết đoạn văn nghị luận 200 chữ trình bày ý kiến “Hãy theo đuổi ước
Viết đoạn văn nghị luận 200 chữ trình bày ý kiến “Hãy theo đuổi ước
Lập dàn ý bài thơ Chiều tối (Mộ) – – Daful Bright Teachers
Lập dàn ý bài thơ Chiều tối (Mộ) – – Daful Bright Teachers
1000 câu hỏi ôn tập môn Ngữ văn lớp 8 có đáp án, cực hay
1000 câu hỏi ôn tập môn Ngữ văn lớp 8 có đáp án, cực hay
Phân tích 2 khổ cuối bài thơ Bếp lửa – TRẦN HƯNG ĐẠO
Phân tích 2 khổ cuối bài thơ Bếp lửa – TRẦN HƯNG ĐẠO